Xuân thu Chiến quốc (51) Cái kết và báo ứng thảm khốc của Thương Ưởng

Tác giả: Thiên Phong | Cập nhật: 08/05/2024
Danh mục: Huyền Sử

Năm 350 TCN, Vệ Ưởng cải cách lần thứ hai, dời đô thành nước Tần từ Lịch Dương về Hàm Dương. Năm 341 TCN, nước Ngụy thất bại khi giao tranh với nước Tề, chủ tướng nước Ngụy tử trận, quân đội nước Ngụy chịu tổn thất lớn. Vệ Ưởng cho rằng đây là thời cơ tốt để xây dựng lại bá nghiệp. Thế là ông thỉnh cầu Tần Hiếu công cho đem quân đánh Ngụy.

Trong “Sử ký – Thương quân liệt truyện” có ghi chép lại rằng, năm 340 TCN, Vệ Ưởng nói với Tần Hiếu công như sau: “Tây Hà là vùng đất mang tính chiến lược quan trọng, nhân lúc nước Ngụy thất bại, chư hầu phân tâm, chúng ta hãy nhanh chóng đoạt lại nơi này”.

Bởi vì hễ chiếm được Tây Hà, biên giới nước Tần sẽ kéo dài về hướng đông sang đến bờ của sông Hoàng Hà. Sau khi chiếm được Hoàng Hà, nước Tần dựa vào sự hiểm trở của sông Hoàng Hà và núi Hào Sơn (tỉnh Hà Nam, Trung Quốc), không chỉ xưng bá khu vực phía tây, mà còn có thể đợi khi Trung Nguyên có biến, thì chỉ cần vượt sông Hoàng Hà là có thể một bước thống nhất thiên hạ. Tần Hiếu công nghe những lời như vậy từ Vệ Ưởng, cảm thấy rất có đạo lý, thế là ông bổ nhiệm Vệ Ưởng làm tướng quân, dẫn binh công hạ nước Ngụy.

Nước Tần xuất quân, nước Ngụy lập tức chuẩn bị, Ngụy vương cũng phái quân đánh chặn. Tướng lãnh binh của nước Ngụy khi đó là ai? Chính là Công tử Ngang. Nhớ năm đó, khi còn ở nước Ngụy thì mối quan hệ giữa Vệ Ưởng và Công tử Ngang rất tốt. Công tử Ngang từng tiến cử Vệ Ưởng cho Ngụy Huệ Văn vương. Nhưng Vệ Ưởng không được Ngụy vương tin dùng.

Lần này khi dẫn binh nghênh chiến, Công tử Ngang không hề nghĩ đến việc thăm lại người bạn cũ, bởi nếu ông vì tình cảm bạn bè mà đàm phán, thì sẽ tiêu hao mất ý chí chiến đấu. Trong tâm Vệ Ưởng cũng rất rõ, thế là Vệ Ưởng mới tương kế tựu kế, viết một lá thư gửi cho Công tử Ngang.

Vệ Ưởng viết rằng: “Năm đó ở Ngụy, chúng ta là bạn bè tốt, nhưng hiện tại người nào chủ nấy. Chúng ta đánh nhau trên chiến trường, tôi nghĩ đến cảnh đó, cảm thấy rất đau lòng. Chi bằng thế này, chúng ta mặc triều phục thay cho giáp trụ, sau đó tìm nơi phong cảnh hữu tình, rồi cùng ăn thịt, uống rượu, thưởng nhạc, hàn huyên… rồi ký một hiệp ước hòa bình. Ngài thấy thế nào?”.

Vốn dĩ Công tử Ngang cũng dự tính như vậy, bởi vì binh đao là việc chẳng lành, đúng lúc nghe Vệ Ưởng nói những lời như thế, cảm thấy như Vệ Ưởng đã nói hộ lòng mình. Cho nên Công tử Ngang bèn viết thư đáp ứng yêu cầu của Vệ Ưởng. Sau đó, Vệ Ưởng hẹn ngày giao ước với Công tử Ngang.

Đến ngày, Công tử Ngang dẫn theo một nhóm binh lính khoảng 300 người, mang một ít bộ nhạc cụ, một ít rượu thịt đến chỗ Vệ Ưởng để cùng ăn uống, thưởng nhạc. Chủ khách phân ngôi, sau đó vào chỗ ngồi. Họ ăn uống vui vẻ… 

Sau một lúc say sưa, bỗng nghe tiếng pháo nổ, Công tử Ngang nhìn Vệ Ưởng và hỏi: “Chuyện gì vậy?”. 

Vệ Ưởng nói: “Lừa ngươi lần này, xin lượng thứ”

Quân Tần mai phục gần đó bất ngờ xông ra, bắt toàn bộ người của Công tử Ngang, không một ai trốn thoát.

Tiếp đó, Vệ Ưởng để binh sĩ của mình mặc y phục của binh sĩ nước Ngụy, rồi ra lệnh cho nhóm quân này quay về thành của Công tử Ngang. Thành này từng được Ngô Khởi xây, nên được gọi là Ngô thành. Quân Tần mặc y phục của lính Ngụy, họ đến dưới thành rồi nói to: “Công tử Ngang vừa mới ký hiệp ước hòa bình với Vệ Ưởng, nay đã về, hãy mở cửa ra”. 

Người ở trên thành lúc đó cũng không rõ mặt mũi binh sĩ là nước Tần hay Ngụy. Sau khi quân Ngụy mở cửa, quân Tần một mạch xông vào thành, chiếm được thành dễ như trở bàn tay. Công tử Ngang không còn cách nào khác, đành phải đầu hàng nước Tần.

Lúc đó, Ngụy vương cảm thấy không còn ai có thể lãnh binh chống lại nước Tần, nên đành quyết định cắt toàn bộ vùng đất Tây Hà giao lại cho Tần. Như vậy, biên cương nước Tần đã kéo dài đến bờ sông Hoàng Hà.

Sau khi Vệ Ưởng trở về, Tần Hiếu công phong thưởng cho ông vùng đất Thương, và đất Ư, tổng cộng 15 thành. Từ đó về sau, Vệ Ưởng mới trở thành Thương Ưởng, bởi vì đất Thương được phong cho ông.

Thương Ưởng rất đắc ý. Có một lần trước các tân khách trong đại yến tiệc, ông đã nói rằng: “Mọi người hãy xem, năm đó ta chỉ là thứ dân nước Vệ, mang theo sách lược vương bá đến giúp nước Tần, giúp Tần quốc nước mạnh binh cường. Sau đó, nắm được một phần chính trị nước Tần, hiện nay lại lấy được Tây Hà, khiến Tần quốc mở mang bờ cõi. Quân vương thưởng cho ta một vùng đất lớn như thế, mọi người xem xem, đại trượng phu cả đời liệu có được như thế không?”. 

Đây chính là “đại trượng phu đắc chí, nói những lời cao ngạo”.

Đang lúc tân khách bên dưới lần lượt chúc mừng, bỗng một người đứng dậy nói to: “Nghìn người vâng vâng dạ dạ, không bằng một người nói lời thật tâm. Nếu ngài muốn nghe lời chân thật, tôi sẽ đáp ứng. Dù tôi có nói thế nào, nếu ngài không giết và không trừng phạt tôi, thì tôi sẽ nói lời từ tận đáy lòng cho ngài”.

Thương Ưởng thoạt nhìn, thì ra là Triệu Lương. Thương Ưởng trả lời: “Có gì ngươi cứ nói, dù nói trực ngôn, ta cũng sẽ không trừng phạt ngươi. Ta muốn hỏi ngươi, ngươi cảm thấy ta với Ngũ Cổ Đại phu, người nào hiền minh hơn?”.

Ngũ Cổ Đại phu là ai? Ngũ Cổ Đại phu là Bách Lý Hề, người mà năm đó phò tá Tần Mục công xưng bá trong thời Xuân Thu. Chúng ta biết rằng, thời Xuân Thu có năm bá chủ là Tề Hoàn công, Tống Tương công, Tấn Văn công, Tần Mục công và Sở Trang vương. Khi Tần Mục công xưng bá thời Xuân Thu, Ngũ Cổ Đại phu là Tướng quốc nước Tần thời ấy.

Bách Lý Hề vì sao lại được gọi là Ngũ Cổ Đại phu? “Cổ” (羖) ở đây là chỉ tấm da dê màu đen. Năm đó, Bách Lý Hề bỏ trốn sang đất Uyển, bị dân biên giới nước Sở bắt được và giam giữ. Tần Mục công nghe nói Bách Lý Hề là người hiền tài, bèn sai người sang chuộc về nước, nhưng sợ nếu người Sở biết Bách Lý Hề là người giỏi, thì sẽ không cho chuộc, nên chỉ dùng năm tấm da dê để chuộc. Do đó, người ta gọi ông là Ngũ Cổ Đại phu. Ngũ Cổ Đại phu lúc làm Tể tướng nước Tần, đã lấy được Tây Hà chỉ trong một trận đánh. Cho nên, Thương Ưởng sau khi lấy được Tây Hà, cũng muốn sánh mình với Bách Lý Hề.

Triệu Lương nói rất nhiều với Thương Ưởng, ông nói rằng: “Năm đó Ngũ Cổ Đại phu làm Tướng quốc nước Tần, ra ngoài trời nóng cũng không mang ô, lúc mệt cũng không ngồi trên xe nghỉ. Lúc ông mất, bách tính khóc ông như khóc phụ mẫu đã qua đời, trẻ con không vui chơi ca hát, nông dân ngừng giã gạo, mọi người đều tưởng nhớ ông. Bởi vì ông rất được lòng dân.

Nhưng Thương Ưởng ngài thì hoàn toàn trái lại. Ngài gặp được quốc vương thông qua tên hoạn quan được sủng ái, đây không phải là con đường chính. Hơn nữa, sau khi nắm chính trị nước Tần, ngài lại chọn cách tàn hại bách tính. Qua 20 năm thống trị của ngài, cuối cùng bách tính sợ chứ không phục ngài, nghĩa là ‘thấy uy hiếp chứ không thấy đạo đức’, để rồi đạo đức người dân băng hoại, ‘nhìn lợi ích mà không nhìn đạo nghĩa’.

Còn nữa, ngài lạm sát vô cớ, đem hai thầy của Thái tử, một người cắt mũi, một người bị thích chữ lên mặt, nên Thái tử hận ngài đến tận xương tủy, dân chúng cũng oán hận ngài. Bản thân ngài cũng biết mình không được lòng dân, nên mỗi lần ra ngoài đều có võ sĩ bảo vệ, ngồi trên xe mà cung tiễn đều lắp sẵn, kiếm tuốt khỏi vỏ, đi đường lại chạy nhanh chứ không dám đi chậm. Nếu không có bảo hộ, ngài đâu dám ra ngoài, chỉ có thể ở nhà. Ngài làm sao có thể sánh với Ngũ Cổ Đại phu! Ngũ Cổ Đại phu ngồi trong xe đều có thể nói chuyện với bách tính.

Trong “Thư kinh” giảng rằng: “Được lòng dân thì hưng thịnh, mất lòng dân thì đổ”. Còn có một cách nói nữa là: “Người cậy đức thì hưng thịnh, kẻ cậy bạo lực thì diệt vong”. Hiện tại ngài không xảy ra vấn đề gì là vì có Tần Hiếu công che chở. Nhưng một khi quốc vương băng hà, mệnh của ngài sẽ chẳng khác gì giọt sương ban mai, sẽ bị mặt trời buổi sáng phơi khô, chỉ trong nháy mắt là bốc hơi không còn tung tích.

Ngài lẽ nào không biết rõ, lại còn tham phú quý ở đất Thương, đất Ư hay sao? Cách bảo toàn mạng duy nhất cho ngài là bây giờ hãy đem 15 thành giao hết cho quốc gia, sau đó tiến cử hiền tài, phò tá Tần Hiếu công. Bản thân ngài thì từ quan, về nơi thôn dã làm dân thường. Như thế mới tránh được tai họa”.

Triệu Lương khuyên vậy nhưng Thương Ưởng không làm theo. Thương Ưởng cũng không suy nghĩ về những lời nói của Triệu Lương. Chính lúc ấy thì có một sự việc bất ngờ xảy ra. Tháng Năm năm sau đó, Tần Hiếu công tạ thế. Thái tử Doanh Tứ kế vị, đây là Tần Huệ Văn công.

Năm đó, Thương Ưởng đã trừng phạt hai người thầy của Tần Huệ Văn công, nên lúc này Công tử Kiền (người bị cắt mũi) và Công Tôn Giả (người bị thích chữ lên mặt) đã bước ra nói với Tần Huệ Văn công rằng: “Chúng thần nghe nói ‘đại thần nắm quyền nhiều quá thì quân vương gặp nguy hiểm’. Hiện nay ở nước Tần dù là người dân nào, hễ nói đến pháp luật thì họ không nói là pháp luật nước Tần, mà nói là pháp luật của Thương quân. Bách tính chỉ biết có Thương Ưởng, chứ không biết đến quân vương. Đến một ngày, hễ Thương Ưởng tạo phản, chẳng phải sẽ dễ dàng đoạt lấy giang sơn của ngài hay sao?”.

Doanh Tứ vốn rất căm hận Thương Ưởng, sau khi nghe hai vị thầy nói như vậy, cảm thấy rất có đạo lý, liền hạ lệnh bắt Thương Ưởng phải từ bỏ ấn tướng, không cho làm quan nữa. Lúc này Thương Ưởng vẫn không cảm thấy nguy hiểm, ông vẫn đặt tiệc đãi khách, sau đó chuẩn bị về đất Thương. Khi ông đãi khách lại sử dụng lễ nghi vương giả, điều này tương đương với việc quyền lạm quyền.

Thời đó, việc sử dụng lễ nghi vượt quá giới hạn là vấn đề rất nghiêm trọng, tương đương với việc mưu phản. Cho nên Tần Huệ Văn công đã hạ lệnh truy bắt Thương Ưởng. Lệnh xuất ra, bách tính đô thành Hàm Dương khi đó, hầu như ai ai cũng xông ra để bắt Thương Ưởng.

Thương Ưởng nghe thấy phía sau có tiếng hét liền biết rằng mọi người đến bắt mình, ông sợ quá bỏ cả quan phục, mặc đồ của dân thường rồi vội vàng chạy trốn. Ban đêm ông chạy đến một quán trọ. Lúc này chủ quán nói: “Căn cứ theo pháp luật của Thương quân nước Tần, thì ai không có giấy chứng nhận thân phận thì không được ở lại quán trọ”. 

Thương Ưởng chán nản nói rằng: “Tại sao ta lại làm ra luật pháp, để rồi tự đào hố chôn mình thế này!”. Ông không trú lại được đành phải lên đường đi ngay trong đêm.

Ông lại chạy tiếp sang nước Ngụy, khi ấy nước Ngụy giáp với Tần. Thế là Ngụy vương nghe nói Thương Ưởng đến, bèn lập tức phái người truy bắt, bởi vì Thương Ưởng đã lừa tướng nước Ngụy là Công tử Ngang để chiếm đoạt Tây Hà, cho nên vua Ngụy cũng căm giận ông ta.

Thương Ưởng không còn cách nào khác, đành chạy về đất phong là Thương, Ư. Ông tính tập hợp binh mã tạo phản. Khi đó, Công Tôn Giả đuổi theo và bắt được ông, áp giải về đô thành. Tần Huệ Văn công liệt kê tội trạng của Thương Ưởng, sau đó sai người dắt ông ra ngoại thành để ngũ mã phanh thây. Thương Ưởng đã nhận phải kết cục bi thảm.

Cải cách của Thương Ưởng đã làm hại người dân nước Tần và hại cả bản thân ông. Đây là bài học quan trọng dành cho người đời sau. Cảm ơn các bạn đã theo dõi video này, xin chào tạm biệt và hẹn gặp lại.


Có thể bạn quan tâm:

Giới tử thư: Tâm thư dạy con của Gia Cát Lượng (năm 233) – Nghìn năm sau tuyệt đối vẫn còn nguyên giá trị

Giới tử thư: Tâm thư dạy con của Gia Cát Lượng (năm 233) – Nghìn năm sau tuyệt đối vẫn còn nguyên giá trị

Bình luận

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}