Hiệp ước hợp tung ở Hoàn thủy làm Tần vương vô cùng sợ hãi. Công Tôn Diễn khuyên Tần vương dùng thủ đoạn quân sự để giải quyết. Còn về phần Trương Nghi, vì muốn giữ lời hứa với Tô Tần, nên chủ trương của ông là không nên đánh nước Triệu, mà thông qua biện pháp ngoại giao, trả lại thành trì cho nước Ngụy, đồng thời thiết lập quan hệ hôn ước với nước Yên. Cách làm này của Trương Nghi quả nhiêu khiến liên minh sáu nước xuất hiện mâu thuẫn. Nhìn “cua cá” nghi ngờ lẫn nhau, nước Tần chính là “ngư ông được lợi”.
Tô Tần và Trương Nghi quả là người có tài, chỉ với hai người này đã thao túng toàn bộ tình hình của các nước trong thời Chiến quốc. Các quốc gia giường như đang nằm trong bàn tay của hai người họ.
Năm 332 TCN, tức là năm thứ hai của Hiệp ước Hoàn thủy, đã phát sinh hai sự kiện. Một là nước Tề liên hợp với nước Ngụy mà tấn công nước Triệu. Sự việc thứ hai là Yên Văn công băng hà, con trai của ông là Yên Dịch vương kế vị.
Tề Tuyên vương nhân lúc nước Yên có tang sự và quân vương mới kế vị, thì phát binh tấn công rồi lấy được 10 thành trì của nước Yên. Năm thứ hai của Hiệp ước Hoàn thủy đã phát sinh hai sự việc như vậy. Cho nên, triển vọng hợp tung trở nên rất mong manh.
Để duy trì hiệp ước hợp tung, Tô Tần thỉnh cầu Triệu vương cho mình đi sứ đến nước Tề để giải quyết vấn đề giữa nước Tề và nước Yên (trong liên minh hợp tung). Tô Tần đến nước Tề bái kiến Tề Tuyên vương, ông nói rằng: “Nước Tề đánh nước Yên đã là chuyện không thích hợp, bởi vì nước Yên có kết thông gia với nước Tần, ngài đánh nước Yên, không những đắc tội với nước Yên mà còn đắc tội với nước Tần. Kế tốt nhất hiện nay chính là, ngài hãy trả lại 10 thành thị cho nước Yên, nước Yên vui thì nước Tần cũng vui. Tuy ngài mất 10 thành trì nhưng lại có được quan hệ hòa hảo với hai nước Yên và Tần”.
Tề Tuyên vương thấy Tô Tần nói rất có lý, ông lấy 10 thành thị trao trả lại cho nước Yên. Tô Tần vì thế đã trở thành “ân nhân” của nước Yên.
Nhưng nếu chúng ta xem những lời này của Tô Tần, thì sẽ phát hiện rằng việc hợp tung rất khó thành công. Bởi vì cơ sở của hợp tung là lợi ích, mỗi quốc gia đều vì lợi ích của mình mà kết liên minh, hôm nay lợi ích của tôi tại chỗ này, ngày mai có thể tại chỗ kia, do vậy vì lợi ích mà các nước sẵn sàng quay lưng với nhau.
Thêm vào đó, mục đích của hợp tung ban đầu là để kháng Tần, nhưng hiện tại Tô Tần lại nói là “vì để có quan hệ tốt với nước Tần”, cho nên sách lược hợp tung của Tô Tần đến năm thứ hai là có nguy cơ tan rã. Tô Tần cũng chỉ là muốn sử dụng sách lược này để cầu được vinh hoa phú quý mà thôi.
Chúng ta nói một chút về Tô Tần. Thực tế Tô Tần không có bất cứ chủ trương rõ ràng nào. Ban đầu, ông muốn du thuyết để giúp Tần Huệ vương thống nhất thiên hạ, vì Tần Huệ vương không trọng dụng, nên ông mới đến Triệu, đề xuất sách lược hợp tung kháng Tần; mạch suy nghĩ của ông không ổn định, không nhất quán, mà đã có sự thay đổi.
Lại nói thêm, đạo đức của Tô Tần cũng không tốt. Khi Tô Tần lâm cảnh khốn khó, Yên Văn Công đã giúp đỡ cho ông, và cung cấp đủ chi phí để Tô Tần đến nước Triệu. Nếu không có Yên Văn Công, thì Tô Tần không thể phát huy tài năng.
Thế nhưng sau khi Yên Văn công mất, Tô Tần lại thông gian với vợ Yên Văn công. Vợ của Yên Văn công là mẹ của Yên Dịch vương. Lúc ấy bà đã trở thành thái hậu.
Tô Tần ở lại nước Yên một thời gian, mẫu thân của Yên Dịch vương, tức là thái hậu bấy giờ, thường gọi Tô Tần vào hậu cung, hai người làm chuyện mờ ám. Yên Dịch Vương cũng biết chuyện của mẫu hậu mình, nhưng cũng ấm ức bỏ qua. Bởi vì Tô Tần là thủ lĩnh của hiệp ước hợp tung, mà cũng vừa giúp nước Yên lấy lại 10 thành trì, nên Yên Dịch Vương cũng chẳng thể làm gì.
Tô Tần thấy sự việc này sớm muộn gì cũng bị bại lộ, thế là ông nói với Yên Dịch vương: “Tôi muốn thay ngài đi đến nước Tề để làm suy bại nền chính trị nước Tề”.
Tô Tần đến nước Tề. Tề Tuyên vương là người rất thích sống trong lầu cao gác tía. Tô Tần khéo léo hiểu ý của Tề vương. Thế là Tô Tần chỉ cho Tề vương cách tu sửa lại căn phòng lớn, làm thế nào để cho đẹp hơn.
Tề Tuyên vương thích mỹ nữ, Tô Tần lại chỉ cho ông cách để tuyển chọn mỹ nữ. Cách nghĩ của Tô Tần khi đó rất là xấu xa. Ông cảm thấy nước Tề quá cường thịnh còn nước Yên quá nhỏ yếu, nên ông hy vọng thông qua cách dụ dỗ Tề vương ăn chơi sa đọa, để có thể khiến nước Tề suy bại, như thế nước Tề sẽ không uy hiếp được nước Yên.
Tô Tần nghĩ cách làm suy bại nền chính trị nước Tề. Không lâu sau thì Tề Tuyên vương mất, con trai Tề Tuyên vương là Điền Địa kế vị, chính là Tề Mẫn vương sau này. Tề Mẫn vương rất coi trọng chuyện triều chính, xử lý chính sự rất siêng năng. Nhưng Tề Mẫn vương sau khi kế vị được bốn năm, ông cũng thiết lập quan hệ thông gia với nước Tần.
Các nước hợp tung kháng Tần, nhưng một số nước lại kết thông gia với nước Tần, vậy phải chăng sách lược hợp tung là vô ích sao?
Đương nhiên sách lược hợp tung của Tô Tần không phải vô ích. Thệ ước hợp tung ký kết vào năm 333 TCN, mãi đến 15 năm sau, tức là năm 318 TCN, ngoài việc phát sinh với nước Ngụy vài trận chiến nhỏ ra, thì trên cơ bản quân Tần không dám ra khỏi ải Hàm Cốc. Sách lược Hợp tung kháng Tần xác thực vẫn có lực uy hiếp nhất định đối với nước Tần.
Năm 318 TCN, phát sinh một sự việc lớn. Năm đó, Sở Hoài vương đột nhiên muốn tấn công nước Tần, tự ông đảm nhận chức “tung ước trưởng” (là người thủ lĩnh của hiệp ước hợp tung). Ông đã liên hợp với 5 nước là: Hàn, Triệu, Ngụy, Yên, Sở để chống Tần.
Sứ giả nước Sở đến, muốn thuyết phục nước Tề để cùng khởi binh. Khi Tề Mẫn vương hỏi các đại thần là liệu có nên xuất binh phạt Tần hay không, thì các đại thần đều nói rằng: “Giữa nước Tần và nước Tề, một ở phía tây, một ở bờ đông, tốt nhất là không nên xuất binh”. Tô Tần khi đó cũng đang ở nước Tề, ông là người đề xướng hợp tung, cho nên ông khuyên Tề vương đừng ngần ngại mà hãy xuất binh.
Thủ hạ của Tề Mẫn vương có Tướng quốc Mạnh Thường Quân, Tề vương hỏi Mạnh Thường Quân là có nên xuất binh hay không? Mạnh Thường Quân đáp: “Xuất binh hay không xuất binh, cả hai đều sai cả. Chúng ta nếu không xuất binh thì sẽ đắc tội với các nước trong liên minh, bởi vì họ đánh nhau với Tần mà chúng ta lại đứng nhìn không giúp. Còn nếu chúng ta xuất binh, chúng ta không đắc tội với nước khác, nhưng lại đắc tội với nước Tần”.
“Cách tốt nhất là chúng ta xuất binh, nhưng để binh mã đi từ từ. Chúng ta đi chậm là để quan sát thế cục. Nếu năm nước kia đánh được Tần thì chúng ta xông ra, còn như Tần quốc quá lợi hại, thì chúng ta cứ chủ động đứng phía sau để tránh phải chịu thiệt”.
Thế là Tề Mẫn vương nghe theo kiến nghị của Mạnh Thường Quân.
Tề vương để Mạnh Thường Quân lãnh quân xuất chinh. Mạnh Thường Quân khi đi ra khỏi ngoại thành của nước Tề thì tuyên bố rằng ông đã lâm bệnh, thế là đại quân đành dừng lại, chờ Mạnh Thường Quân hồi phục, còn liên quân năm nước Yên – Sở – Hàn – Triệu – Ngụy đã xảy ra trận đại chiến với nước Tần.
Trận chiến này đã lộ rõ điểm yếu của năm quốc gia: Năm nước không có sự phối hợp quân sự, không có sự thống nhất trong chỉ huy. Khi liên quân năm nước đến ải Hàm Cốc, nước Tần phái đại tướng Xư Lý Tật mở to cửa Hàm Cốc. Xư Lý Tật lớn tiếng nói: “Năm nước các ngươi có ai muốn quyết chiến không?”. Nhưng mỗi nước đều hy vọng nước khác xông ra trước, cho nên cứ đùn đẩy cho nhau, rốt cuộc không ai dám xông lên.
Xư Lý Tật phái binh cắt đứt đường vận chuyển lương thực của nước Sở. Đường vận lương hễ gián đoạn, quân Sở thiếu ăn sẽ phát sinh binh biến, nước Tần nhân cơ hội đó đánh bại nước Sở, quân Sở đại bại. Sở Hoài vương là người đứng đầu liên minh hợp tung, quân Sở vừa bại trận thì bốn nước khác toàn bộ rút lui. Quân đội của Mạnh Thường Quân khi đó còn chưa đến tiền tuyến thì cuộc chiến đã kết thúc rồi.
Khi Mạnh Thường Quân về đến nước Tề, Tề Mẫn vương nói: “May mà ta nghe khanh, nếu nghe lời Tô Tần kia, thì ta mắc lừa Tô Tần rồi”. Khi đó có một số người đố kỵ với Tô Tần vì được vua sủng ái, họ nghe thấy Tề vương nói như vậy, thì cảm thấy sự ân sủng của quân vương đối với Tô Tần đã suy giảm lắm rồi.
Vốn dĩ có rất nhiều người ghét Tô Tần nên họ sai người thích sát ông. Có một lần, Tô Tần lên triều, ông đã bị thích khách dùng dao găm đâm vào bụng, kẻ ám sát bỏ chạy.
Máu tuôn ra như suối, Tô Tần thều thào nói với Tề Mẫn vương rằng: “Thần gặp thích khách, thích khách là ai thần không biết rõ, thần có lẽ không qua nổi. Thần thỉnh cầu đại vượng, sau khi thần chết, hãy đem xác thần kéo lê ngoài đô thị, cho ngũ mã phanh thây trước mặt mọi người. Nếu làm như thế, thích khách sẽ cho rằng ngài rất hận hạ thần, kẻ ấy sẽ tự nhiên nhảy ra, nói hết sự việc mà hắn làm, hắn sẽ ba hoa khoác lác với mọi người”.
Điều này cho chúng ta thấy một khía cạnh khác của Tô Tần, ông rất nhẫn tâm với bản thân.
Tề vương thật sự đã đem xác Tô Tần kéo lê đến chợ rồi cho ngũ mã phanh thây. Sau đó quả nhiên có một người nhảy ra nói: “Các người xem, ta biết thể nào hắn cũng gặp kết cục như vậy mà”. Quả nhiên tên thích khách đã lộ diện. Tề Mẫn vương bắt tên thích khách rồi truy ra người xúi giục, rồi chém cả họ người đã xúi giục kẻ ám sát hành thích Tô Tần.
Tô Tần một đời anh hùng hào kiệt, nhưng lại có kết thúc đau lòng như vậy. Thực ra, nếu Tô Tần là một người nhân đức liêm khiết, hết lòng vì dân và vì quân vương, thì chắc hẳn Tề vương cũng không nỡ phanh thây ông như vậy.
Năm 318 TCN, tin tức Tô Tần bị ám sát đã đến được nước Tần. Trương Nghi khi đó đang làm tướng quốc nước Tần, ông cao hứng nói rằng: “Tô Tần chết rồi, từ đây ta có thể giảng nói về chủ trương của mình rồi”. Bởi vì lúc Tô Tần còn sống, Trương Nghi ngần ngại nói chủ ý của mình, vì ông có giao ước với người bạn là không tấn công liên minh hợp tung.
Trong phần cuối “Sử ký – Trương Nghi liệt truyện” Tư Mã Thiên có viết như sau: “Hai người Tô Tần và Trương Nghi đều nham hiểm và xảo trá”.
Nhận định này quả là đúng. Trương Nghi nhận ân nghĩa lớn của Tô Tần, nhưng khi người bạn qua đời, ông này lại không tỏ ra đau buồn gì cả. Trương Nghi lại còn mừng vui vì không còn bị Tô Tần cản trở, cuối cùng Trương Nghi đã có thể tung hoành.
Vậy rốt cuộc Trương Nghi có thể tung hoành được hay không, chúng tôi sẽ kể tiếp câu chuyện trong tập sau. Cảm ơn bạn đã theo dõi video này, xin chào tạm biệt và hẹn gặp lại.
