Đường Thái Tông là một vị hoàng đế toàn tài. Với tài năng quân sự, ông đã dẹp yên chiến loạn cuối thời Tùy, với tài năng chính trị, ông đã đưa Đại Đường từ một quốc gia tàn tạ sau chiến tranh, nhanh chóng bước vào thời thịnh trị.
Nhưng thế gian này có quy luật tương sinh tương khắc, không có gì là hoàn hảo cả. Con trưởng của Đường Thái Tông – Thái tử Lý Thừa Càn là một người hư hỏng, khó có thể dạy dỗ. Tướng quân Hầu Quân Tập còn bày mưu xúi giục Thái tử mưu phản.
Với sự anh minh thần võ của Đường Thái Tông, cho dù Thái tử có chuẩn bị chu toàn thế nào đi nữa thì cuộc mưu phản cũng không thể thành công. Thế nhưng, trước khi Thái tử kịp hành động, người con trai thứ năm của Đường Thái Tông là Lý Hựu đã nổi dậy trước. Cuộc tạo phản của Lý Hựu khiến Thái tử bị liên lụy, đồng thời làm lộ ra âm mưu của Thái tử.
Lý Hựu được phong làm Tề vương, giữ chức Đô đốc ở vùng Sơn Đông. Trước đó, Đường Thái Tông từng suy nghĩ rất nhiều về vấn đề giáo dục con cái, hy vọng những người hầu cận bên cạnh các hoàng tử đều phải là bậc chính nhân quân tử. Vì vậy, hoàng đế phái Quyền Vạn Kỷ đến bên cạnh Tề vương Lý Hựu, mà Quyền Vạn Kỷ là một người rất chính trực và cũng nổi tiếng nghiêm khắc.
Khi Quyền Vạn Kỷ đến, ông lập tức tống hết đám người xấu quanh Tề vương ra khỏi phủ, nhưng Tề vương Lý Hựu lại lén gọi họ trở về, rồi ngày ngày kết bạn chơi bời cùng bọn họ. Dần dần, mối quan hệ giữa Quyền Vạn Kỷ và vị hoàng tử này ngày càng xấu. Quyền Vạn Kỷ không cho Lý Hựu đi săn, còn thả hết chim ưng và chó săn của Lý Hựu ra ngoài đồng, không cho nuôi dưỡng những thứ ấy nữa.
Những việc xấu mà Tề vương đã làm, Đường Thái Tông đều biết cả. Thế là ông gọi Quyền Vạn Kỷ vào kinh thành để báo cáo tình hình cho rõ ràng. Trước khi lên đường, Quyền Vạn Kỷ nói với Tề vương rằng: “Ta sắp gặp phụ hoàng của ngài. Hoàng thượng chắc chắn không hài lòng về ngài. Ngài hãy viết một bản kiểm điểm, ta sẽ thay ngài dâng lên để tỏ rõ rằng ngài đã biết lỗi”.
Lý Hựu bèn viết một bản kiểm điểm rất thành khẩn. Đường Thái Tông đọc xong, ông cảm thấy Tề vương đã biết tự nhận lỗi, thế nhưng vẫn trách mắng một trận, rồi khuyến khích Quyền Vạn Kỷ tiếp tục chỉnh đốn Lý Hựu.
Khi Quyền Vạn Kỷ trở lại và kể lại sự việc, Lý Hựu nổi giận đùng đùng: bản thân thì bị quở trách, còn Quyền Vạn Kỷ lại được ban khen. Lý Hựu uất ức, bắt đầu tìm cách để ám sát Quyền Vạn Kỷ, không ngờ việc này đã bị lộ ra ngoài. Âm mưu ám sát mệnh quan triều đình chính là đại tội.
Năm Trinh Quán thứ mười bảy, Đường Thái Tông hạ chiếu gọi cả Lý Hựu và Quyền Vạn Kỷ vào kinh để chờ xử lý. Theo chiếu chỉ, Quyền Vạn Kỷ phải đi trước, thế rồi Lý Hựu phái thuộc hạ đuổi theo, họ dùng cung tên bắn vào Quyền Vạn Kỷ, làm ông qua đời.
Do đó, Lý Hựu quyết định khởi binh tạo phản. Đường Thái Tông phẫn nộ, ông lập tức phái Binh bộ Thượng thư Lý Tích đi dẹp loạn. Lúc đại quân triều đình sắp kéo tới, Lý Hựu vẫn còn uống rượu trong yến tiệc vui đùa, không hề bố trí quân sự.
Chẳng bao lâu sau, Lý Tích công phá thành trì, bắt sống Lý Hựu. Lý Hựu bị áp giải về kinh sư, bị giáng làm thứ dân, rồi được ban cho cái chết.
Lúc này, Hán vương Lý Nguyên Xương cũng khuyên Thái tử làm phản. Ông ta nói: “Hôm trước ta thấy bên cạnh Hoàng thượng có một mỹ nhân rất giỏi đàn tỳ bà. Nếu đại sự thành công, xin Điện hạ ban nàng ấy cho ta.” Thái tử liền đáp ứng.
Khi đó, một số quan viên thân tín của Thái tử cũng tham gia vào âm mưu tạo phản. Họ dùng dao rạch cánh tay, lấy lụa lau máu, đốt tấm lụa ấy thành tro rồi hòa vào rượu uống cạn, lập lời thề cùng nhau làm nên đại sự.
Có người hiến kế cho Thái tử rằng: “Thiên văn có biến, phải nhanh chóng hành sự để ứng với điềm trời. Điện hạ chỉ cần nói mình đột ngột lâm bệnh nặng, rất nguy kịch, Hoàng thượng tất sẽ đích thân tới thăm. Khi ấy, chúng ta có thể nhân cơ hội mà hành thích”.
Lúc này, Thái tử cũng nghe tin Tề vương Lý Hựu tạo phản, Thái tử bèn nói với Hột Can Thừa Cơ và những người khác rằng: “Tường phía tây của Đông cung ta cách đại nội chỉ khoảng hai chục bước. Chúng ta mà làm đại sự ở đây, chẳng phải còn dễ hơn Tề vương rất nhiều sao!”
Về sau, vụ mưu phản của Tề vương Lý Hựu đã bị điều tra rất kỹ, cuối cùng liên lụy tới Hột Can Thừa Cơ. Cụ thể liên lụy thế nào thì sử sách không ghi rõ, chỉ chép rằng: “Nhân việc xét tội tạo phản của Lý Hựu, liền bắt Thừa Cơ, Thừa Cơ bị giam vào ngục của Đại Lý Tự, theo luật phải xử tử.”
Tháng tư, năm Trinh Quán thứ mười bảy, Hột Can Thừa Cơ dâng biểu tố cáo âm mưu tạo phản của Thái tử. Tin này gây chấn động triều đình, việc Thái tử mưu phản quả là âm mưu động trời, thậm chí có thể liên quan tới sự hưng vong của quốc gia. Đường Thái Tông lập tức ra chiếu lệnh cho Trưởng Tôn Vô Kỵ, Phòng Huyền Linh, Tiêu Vũ, Lý Thế Tích cùng các cơ quan của Đại Lý Tự, Trung thư tỉnh, Môn hạ tỉnh phải phối hợp điều tra và xét xử vụ án này.
Vụ án chắc chắn sẽ kéo theo Vệ trưởng của Thái tử Thừa Càn, là Hạ Lan Sở Thạch. Người này lại chính là con rể của Hầu Quân Tập. Hạ Lan Sở Thạch bị bắt thẩm vấn, liền khai ra cả cha vợ của mình.
Đường Thái Tông lập tức triệu Hầu Quân Tập vào đại điện rồi nói: “Ngươi là khai quốc công thần. Trẫm không muốn để ngươi đối mặt với bọn tiểu lại bút sách, nên sẽ đích thân hỏi cung. Trẫm chỉ muốn hỏi: chuyện mưu phản là có hay không?”
Hầu Quân Tập quyết không thừa nhận. Đường Thái Tông cho gọi Hạ Lan Sở Thạch đến để đối chất ngay trước mặt. Hạ Lan Sở Thạch đưa ra bằng chứng là thư tín qua lại giữa Hầu Quân Tập và Thái tử Lý Thừa Càn. Lúc này Hầu Quân Tập không còn đường chối cãi, đành phải nhận tội.
Luật pháp thời xưa có quy định rất nghiêm, trong đó có mười tội ác tuyệt đối không được tha, gọi là “Thập ác bất xá”. Trong đó, mưu phản là một trong những trọng tội đứng đầu. Vì vậy, bất kể Hầu Quân Tập có công lao lớn đến đâu, cuối cùng cũng phải bị xử tử.
Đường Thái Tông vẫn không nỡ ra tay, ông liền bàn với các đại thần rằng: “Hầu Quân Tập là khai quốc đại công thần. Mong các khanh đồng ý để trẫm tha cho ông ấy”.
Nhưng tất cả các đại thần đều phản đối. Thế là Đường Thái Tông rơi lệ mà nói với Hầu Quân Tập rằng: “Ta phải vĩnh biệt khanh rồi. Công lao của khanh, ta không bao giờ quên. Ta cũng sẽ không gỡ bức họa của khanh trong Lăng Yên Các xuống. Nhưng… vì khanh, từ nay ta sẽ không bước chân lên Lăng Yên Các nữa.”
Khi đọc đến đây, chúng tôi vô cùng xúc động. Câu chuyện này được chép trong quyển 11 của Đại Đường Tân Ngữ.
Lúc này, Hầu Quân Tập vô cùng xúc động, ông dập đầu xuống mà bái lạy, nhưng mọi chuyện đều đã muộn rồi. Mưu nghịch là đại tội phải tru di, Hầu Quân Tập cầu xin Đường Thái Tông mở cho gia tộc một con đường sống, giữ lại một người để nối dõi.
Đường Thái Tông đồng ý. Cuối cùng, hoàng đế không chỉ tha chết cho con trai của Hầu Quân Tập, mà còn tha cho cả vợ ông ta. Chỉ phái họ đi đày xuống Lĩnh Nam, thoát khỏi thảm cảnh tru di tam tộc.
Còn về Thái tử Thừa Càn, Đường Thái Tông hỏi ý kiến các đại thần, nhưng không ai dám trả lời. Lúc ấy, có một vị quan phụ trách sắp xếp việc triều kiến và trình tấu là Lai Tế đã trình bày rằng: “Thần mong bệ hạ hãy làm một người cha nhân từ. Chỉ cần để Thái tử sống hết tuổi trời là được”. Đường Thái Tông đồng ý, rồi hạ chiếu phế truất Thái tử Lý Thừa Càn, giáng xuống làm thứ dân.
Còn với Lý An Nghiễm thì buộc phải bị xử tử, bởi vì hắn là người từng nhận hối lộ của Lý Thừa Càn để bí mật theo dõi nhất cử nhất động của Hoàng đế. Khi ấy, cha của Lý An Nghiễm đã hơn chín mươi tuổi, Đường Thái Tông thương ông già nua mà không còn con trai phụng dưỡng, nên đã ban cho mấy nô tỳ để tiện bề chăm sóc, lo hậu sự. Điều này cho thấy Đường Thái Tông quả thực là bậc quân chủ nhân nghĩa, làm tròn cả tình cả lý.
