Ngày 26 tháng 5 năm 649, Đường Thái Tông băng hà tại Hàm Phong điện, trong Túy Vi cung nằm trên núi Chung Nam. Một năm trước khi qua đời, ông đã hoàn thành tác phẩm “Đế Phạm”, đây là sách bàn luận về đạo trị quốc bình thiên hạ, là tinh túy mà bản thân ông đã dành cả đời để lĩnh hội.
Công nghiệp hiển hách của thời Trinh Quán khiến hậu thế ngưỡng vọng khôn nguôi. Dưới thời Đường Cao Tông, lãnh thổ Đại Đường tiếp tục mở rộng và đạt đến cực thịnh.
Trong phần Tần Hoàng Hán Vũ, chúng tôi từng kể về việc Hán Vũ Đế khai mở bờ cõi và phái quân chinh chiến tứ phương, lãnh thổ thời Hán đã mở rộng gần như gấp đôi so với lãnh thổ nhà Tần khi trước. Thế nhưng thời kỳ nhà Hán có lãnh thổ rộng lớn nhất lại không phải là dưới thời Hán Vũ Đế, mà phải trải qua hai đời Hán Chiêu Đế và Hán Tuyên Đế tiếp tục bồi đắp, đến thời Hán Tuyên Đế thì lãnh thổ mới đạt đến cực đại.
Nhà Đường cũng có tình hình tương tự. Thời kỳ lãnh thổ nhà Đường đạt đến quy mô rộng lớn nhất, chính là dưới thời Đường Cao Tông. Đường Cao Tông dụng binh trọng điểm nhắm vào Liêu Đông và bán đảo Triều Tiên.
Trong lịch sử, nhà Đường đã tiến hành ba lần xuất quân quy mô lớn để đánh Cao Ly. Lần thứ nhất là dưới thời Đường Thái Tông, hai lần sau diễn ra dưới thời Đường Cao Tông.
Trước đó, Tùy Dạng Đế đã ba lần huy động đại quân để chinh phạt Cao Ly, nhưng thất bại, và điều này đã trực tiếp dẫn tới sự sụp đổ của nhà Tùy. Đến thời Đường Cao Tổ, niên hiệu Vũ Đức, quan hệ giữa Cao Ly và Đại Đường đã được khôi phục, thậm chí quốc vương Cao Ly còn phái sứ thần sang nhà Đường để triều cống. Ba nước trên bán đảo Triều Tiên là Cao Ly, Bách Tế, Tân La – đều nhận sắc phong của Đường Cao Tổ. Trên bán đảo Triều Tiên, nước Cao Ly ở phương Bắc, nước Bách Tế ở Tây Nam, và nước Tân La ở Đông Nam. Bố cục này có phần giống cục diện tam quốc trong lịch sử Trung Hoa.
Vào đầu thời Đường, quốc vương Cao Ly là Cao Kiến Vũ. Khi ấy, ở Cao Ly có một quyền thần tên là Uyên Cái Tô Văn, có quyền thế rất lớn. Họ của ông ta là Uyên, cùng chữ với tên Lý Uyên của Đường Cao Tổ. Vì phải tránh phạm húy, nên trong sử sách Trung Quốc về sau đều đổi thành Tuyền Cái Tô Văn.
Đến năm Trinh Quán thứ mười sáu, Uyên Cái Tô Văn phát động chính biến, giết chết quốc vương Cao Kiến Vũ rồi tự xưng là Mạc Ly Chi – đây là tên của một chức vị trong triều đình Cao Ly, tương đương với chức tể tướng, ông ta nắm hết cả binh quyền lẫn chính quyền của Cao Ly.
Sau khi đoạt quyền, Uyên Cái Tô Văn liên minh với nước Bách Tế để tiến công nước Tân La. Quốc vương Tân La phải cầu viện Đại Đường. Triều đình nhà Đường nhiều lần gửi thư khuyên Uyên Cái Tô Văn dừng binh, nhưng ông ta hoàn toàn bỏ ngoài tai.
Vì thế, đến năm Trinh Quán thứ mười chín, Đường Thái Tông quyết định thân chinh tiến đánh Cao Ly. Hoàng đế phong Trương Lượng giữ chức Bình Nhưỡng hành quân đại tổng quản, dẫn quân từ Sơn Đông vượt biển đánh thẳng vào Bình Nhưỡng, lại lệnh cho Lý Tích làm Liêu Đông hành quân đại tổng quản, dẫn sáu vạn kỵ binh tiến thẳng tới Liêu Đông. Bản thân Đường Thái Tông thì đích thân thống lĩnh đại quân đi sau làm hậu viện.
Trong lần xuất chinh này, Đường Thái Tông lệnh cho Thái tử ở lại kinh sư làm giám quốc, thay hoàng đế quản lý chính sự. Ngày mùng mười tháng tư, Đường Thái Tông khởi hành từ U Châu (tức Bắc Kinh ngày nay).
Khởi đầu chiến dịch vô cùng thuận lợi. Lý Tích đánh chiếm được Cái Mưu thành (nay là Phủ Thuận). Trương Lượng dẫn quân vượt biển từ Sơn Đông, đến ngày 2 tháng 5 thì công hạ được Ty Sa thành (nay thuộc Đại Liên). Sau đó, dưới chân thành Liêu Đông, Giang Hạ vương Lý Đạo Tông chỉ huy bốn nghìn kỵ binh, đánh tan đạo quân cứu viện gồm bốn vạn bộ binh và kỵ binh của Cao Ly.
Lúc này, Đường Thái Tông cũng đã vượt sông Liêu Hà, tiến đến dưới chân thành Liêu Đông. Ông đích thân chỉ huy đại quân, cho đào đất rồi đắp một con dốc lên cao ngang với thành, rồi cho quân đánh ập vào. Sau mười hai ngày, quân Đường công hạ thành Liêu Đông, bắt sống hơn một vạn quân địch.
Ngày 11 tháng sáu, Đường Thái Tông dẫn quân xuống phía nam, tiến đến thành An Thị (nay thuộc Hải Thành, Liêu Ninh). Lúc ấy, Bắc bộ tổng đốc Cao Diên Thọ và Cao Huệ Chân dẫn theo mười lăm vạn quân Cao Ly tới cứu viện thành An Thị.
Đường Thái Tông phái một cánh quân nhỏ ra để dụ địch, đồng thời tung tin giả để khiến quân Cao Ly mất cảnh giác. Khi thời cơ đã đến, đại quân nhà Đường bất ngờ chia đường xông ra tập kích, khiến trận thế của Cao Ly hoàn toàn sụp đổ, hơn hai vạn binh sĩ tử trận. Vài ngày sau, Cao Diên Thọ và Cao Huệ Chân dẫn theo tàn quân hơn ba vạn sáu nghìn người đến đầu hàng nhà Đường.
Đến đầu tháng bảy, Đường Thái Tông dẫn quân đến An Thị thành. Trận đánh công phá An Thị diễn ra vô cùng gian khổ, hai bên giao chiến suốt hơn sáu mươi ngày, quân Đường vẫn không thể công hạ được thành.
Khi ấy, quân Đường huy động năm mươi vạn dân công đắp một con dốc lớn, cao như ngọn đồi nhỏ, rồi từ trên cao đánh xuống thành An Thị. Thế nhưng con dốc bất ngờ đổ sụp, đè gãy cả một đoạn tường thành. Đó vốn là thời cơ tốt nhất để quân Đường xông vào chiếm thành, nhưng vị tướng chỉ huy không rõ vì lý do gì lại tự ý rời khỏi trận địa, dẫn đến trễ mất thời cơ. Nhân đó, quân Cao Ly chỉ với vài trăm người đã xông ra từ chỗ tường đổ, rồi chiếm luôn con dốc. Bởi vì trên dốc thì hẹp, dễ thủ khó công, quân Đường phản kích liên tiếp ba ngày mà không thu hồi nổi.
Khi ấy đã vào trung tuần tháng chín âm lịch, vùng đông bắc bắt đầu đóng băng, cỏ cây đều khô héo. Đường Thái Tông nhìn thấy lương thảo sắp cạn, nên vào ngày mười tám tháng chín, ông ra lệnh rút quân.
Trước khi rút quân, Đường Thái Tông cho tổ chức một cuộc duyệt binh lớn ngay dưới chân thành An Thị để phô trương uy thế rồi mới rút lui. Quân giữ thành không dám truy kích. Thành chủ bước lên tường thành cung kính cúi đầu bái biệt Đường Thái Tông. Đường Thái Tông khen ngợi ông vì lòng trung với quốc quân và tinh thần tử thủ đến cùng, hoàng đế phái người ban thưởng một trăm tấm lụa. Mặc dù hai bên đánh nhau gần như là tử chiến, mà vẫn có cảm giác kính phục đối phương.
Khi quân Đường rút lui, trời bỗng đổ gió tuyết dữ dội, rất nhiều binh sĩ bị lạnh mà chết dọc đường. Cuộc viễn chinh lần này tuy chiếm được hơn mười mấy thành của Cao Ly, giết hơn bốn vạn quân địch, nhưng quân Đường cũng tổn thất hai nghìn người, còn ngựa chiến thì hao hụt đến bảy, tám phần mười.
Đường Thái Tông vốn tưởng mình sẽ sớm có chiến thắng khải hoàn. Trước lúc xuất chinh, khi Thái tử Lý Trị tiễn cha lên đường, Đường Thái Tông mặc một chiếc trường bào màu xám đậm, ông nói: “Đợi đến khi trẫm gặp lại con, trẫm mới thay bộ y phục này”. Không ngờ đại quân phải chinh chiến suốt nửa năm mới trở về. Chiếc trường bào khi ấy đã rách nát, nhưng Đường Thái Tông vẫn nhất quyết không thay. Chỉ đến khi Thái tử Lý Trị đích thân đến Định Châu để nghênh giá, dâng lên chiếc trường bào mới, Đường Thái Tông mới chịu thay y phục.
Khi ấy, Đường Thái Tông vốn định chấp thuận một kế sách rất tuyệt diệu, đó là bỏ qua An Thị thành, men đường nam tiến, rồi đánh thẳng vào Ô Cốt thành, nay thuộc Phụng Thành, Liêu Ninh, nằm chếch về phía tây bắc Đan Đông một đoạn. Nếu chiếm được Ô Cốt thành, quân Đường có thể vượt sông Áp Lục Giang rồi đánh thẳng vào Bình Nhưỡng. Quân Cao Ly đã nhiều lần bại trận, lòng quân tan rã, chỉ cần công phá được Bình Nhưỡng thì mục tiêu của cuộc viễn chinh này xem như hoàn toàn đạt được.
Thế nhưng Trưởng Tôn Vô Kỵ lại phản đối. Ông lo rằng tàn quân Cao Ly ở phía tây sông Áp Lục sẽ vòng ra đánh vào đường tiếp viện, cắt đứt hậu phương của quân Đường. Vì sự phản đối ấy, Đường Thái Tông đành bỏ dở kế hoạch tiến đánh thành Ô Cốt, rồi để lỡ mất thời cơ đánh thẳng vào Bình Nhưỡng.
Trong cuộc viễn chinh đánh Cao Ly lần ấy, quân Đường chỉ đạt được một phần thắng lợi, chứ chưa thể tiêu diệt chủ lực của Cao Ly. Vì thế, Uyên Cái Tô Văn lại càng trở nên ngạo mạn đối với Đại Đường.
Sau khi Đường Cao Tông lên ngôi, cả Cao Ly, Bách Tế, và Tân La đều phái sứ giả sang cầu hòa, và sự yên bình này đã kéo dài được khoảng năm năm.
Đến năm Vĩnh Huy thứ năm dưới thời Đường Cao Tông (tức năm 654), quốc vương nước Tân La là Kim Chân Đức đã qua đời, em trai là Kim Xuân Thu lên kế vị. Nhân cơ hội này, Cao Ly và Bách Tế liên thủ rồi xâm lược nước Tân La. Quốc vương nước Tân La phải liên tiếp phái người xin Đại Đường chi viện.
Đường Cao Tông lập tức cử tướng Trình Danh Chấn đi đánh Cao Ly. Trình Danh Chấn thắng được một trận nhỏ rồi cho rút quân. Cao Ly thấy vậy thì cho rằng Đại Đường không đủ sức phát động chiến tranh quy mô lớn, nên càng gấp rút tấn công Tân La, còn quốc vương Tân La thì không ngừng dâng thư cầu cứu.
Đến năm 660, triều đình nhà Đường định ra một sách lược mới, đó là trước tiên tiêu diệt nước Bách Tế, rồi chia quân hai đường, từ hướng nam và bắc để đánh giáp công nước Cao Ly. Đường Cao Tông phái Tô Định Phương dẫn quân vượt biển từ Thành Sơn (nay thuộc Văn Đăng, Sơn Đông) rồi đánh thẳng vào Bách Tế. Bách Tế không thể chống đỡ, quốc vương Phù Dư Nghĩa Từ bị bắt rồi áp giải về Đại Đường. Đường Cao Tông sau đó đã ra lệnh sáp nhập Bách Tế vào lãnh thổ nhà Đường, thiết lập năm đô đốc phủ để tiện bề quản lý.
Sau khi Bách Tế đầu hàng, tàn quân của họ vẫn nổi lên chống đối. Một tướng của Bách Tế tên Phúc Tín muốn khôi phục quốc gia, nên rước Phù Dư Phong từ Nhật Bản trở về, ông là con trai của quốc vương Phù Dư Nghĩa Từ.
Nhật Bản khi ấy cũng muốn mở rộng thế lực trên bán đảo Triều Tiên, nên đã phái thủy quân sang trợ chiến cho Phúc Tín. Năm 663, nhà Đường phái Lưu Nhân Quỹ xuất quân, đánh tan tàn quân của Bách Tế, đồng thời đánh bại thủy quân Nhật Bản tại Bạch Giang khẩu (nay là cửa sông Cẩm Giang), rồi đốt hơn bốn trăm chiến thuyền, khiến hạm đội của Nhật gần như diệt sạch.
Không bao lâu sau, nội bộ nước Cao Ly xảy ra biến loạn. Năm 666, Uyên Cái Tô Văn qua đời, con trai là Nam Sanh lên giữ chức Mạc Ly Chi, nhưng bị hai em là Nam Kiến và Nam Sản lật đổ. Nam Sanh phải chạy sang Đại Đường để xin cầu viện.
Nhân lúc Cao Ly rơi vào nội loạn, nhà Đường lập tức hành động. Đường Cao Tông phái Lý Tích xuất chinh đánh Cao Ly. Đến năm 668, quân Đường vây khốn Bình Nhưỡng, quốc vương Cao Tạng buộc phải đầu hàng. Tại Bình Nhưỡng, nhà Đường lập An Đông Đô hộ phủ, kiểm soát vùng đất của Cao Ly với chín đô đốc phủ và bốn mươi hai châu, đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của vương quốc Cao Ly.
