Tập 107: Tô Định Phương và Tiết Nhân Quý, hai vị tướng lừng danh của nhà Đường

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 08/04/2026

Năm 663, sau khi nhà Đường tiêu diệt nước Bách Tế, thì ở phía tây xảy ra xung đột giữa bộ lạc Thổ Cốc Hồn và Thổ Phồn. Hai nước này xảy ra xung đột rồi giao tranh, Thổ Cốc Hồn đại bại, khả hãn cùng hoàng hậu là Hoằng Hóa Công Chúa đã mất sạch lãnh thổ, phải dẫn tàn quân chạy sang nương nhờ Đại Đường.

Sau khi Thổ Phồn đánh bại Thổ Cốc Hồn, đại quân vẫn tiếp tục truy sát tới tận biên giới nhà Đường. Lúc ấy, Tô Định Phương đã bảy mươi hai tuổi, nhưng ông vẫn được bổ nhiệm làm An Tập đại sứ, trấn giữ phòng tuyến chống Thổ Phồn. Trong tiếng ngựa hí gió thu, ông tiếp tục kiên trì nơi chiến trận suốt bốn năm, đến năm bảy mươi sáu tuổi thì qua đời.

Cả đời Tô Định Phương xông pha trận mạc hàng chục năm, sự nghiệp trải khắp bốn phương. Phía bắc, ông đánh bại quân của Hiệt Lợi Khả Hãn, phía tây đánh bại Tây Đột Quyết, bắt sống A Sử Na Hạ Lỗ, phía đông thì bình định nước Bách Tế, còn phía nam trấn giữ biên ải, giao chiến với Thổ Phồn. Vó ngựa của Tô Định Phương tung hoành vạn dặm, sau khi đánh diệt ba nước, ông đều bắt sống thủ lĩnh của họ.

Trước đó, vào năm Trinh Quán thứ tư, Tô Định Phương từng cùng với Lý Tĩnh dẫn quân tiến đánh Đông Đột Quyết. Trong một trận đánh dữ dội, ông chỉ dẫn theo hai trăm kỵ binh mà bắt sống được Hiệt Lợi Khả Hãn. Ở phía tây, khi đánh với Tây Đột Quyết, Tô Định Phương lại bắt sống A Sử Na Hạ Lỗ, lập chiến công lừng danh.

Tô Định Phương còn hết mực nâng đỡ đám hậu bối, trong đó có một người tên Bùi Hành Kiệm. Tô Định Phương từng nói với Bùi Hành Kiệm rằng: “Ta dụng binh, trong đời chẳng có ai đáng để truyền dạy, nay chỉ có ngươi là người hiền”. Sau đó, ông đem tất cả những kỳ thuật dụng binh mà ông học được trong cả một đời làm tướng, truyền thụ lại cho Bùi Hành Kiệm”. Bùi Hành Kiệm cảm kích khôn nguôi.

Vào những năm đầu thời Đường Cao Tông, còn có một ngôi sao tướng lĩnh rực rỡ nữa, đó là Tiết Nhân Quý.

Khi Đường Thái Tông xuất chinh tiến đánh Cao Ly, Tiết Nhân Quý chỉ là một binh sĩ cấp thấp, nhưng nhờ có sự dũng mãnh xung phong, đánh đâu thắng đó, nên đã lọt vào mắt của Đường Thái Tông. Lúc rút quân khỏi Cao Ly, Đường Thái Tông từng nói: “Chuyến xuất chinh lần này, điều khiến ta vui không phải là chiếm được Liêu Đông, mà là tìm được Tiết Nhân Quý.”

Đến năm Hiển Khánh thứ tư (tức năm 659), Tiết Nhân Quý giao chiến với đại tướng Ôn Sa Môn của Cao Câu Ly tại Hoành Sơn. Khi ấy, ông cầm cung cưỡi ngựa, xông lên phía trước, lao thẳng vào trận doanh của địch rồi bắn tên liên tục. Hễ có mũi tên bắn ra, là kẻ địch lập tức ngã xuống, lực kéo cung tên rất mạnh, có thể bắn xuyên qua áo giáp.

Sau đó, quân Đường lại giao chiến với quân Cao Ly tại Thạch Thành. Lúc này xuất hiện một tướng địch rất có tài bắn cung, là một tay thiện xạ, vị tướng này đã giương cung bắn gục hơn mười binh lính nhà Đường, không ai dám tới gần.

Thấy vậy, Tiết Nhân Quý giận dữ, ông một mình thúc ngựa xông đến, nhằm thẳng viên tướng ấy mà đánh. Tướng địch kinh sợ trước uy võ của Tiết Nhân Quý, còn chưa kịp giương cung thì đã bị bắt sống.

Khi nói về sự nghiệp của nhà Đường trong thời Trinh Quán, chúng tôi từng kể rằng nhà Đường đã tiêu diệt Tiết Diên Đà ở phương bắc. Sau khi Tiết Diên Đà bị đánh bại, bộ lạc Hồi Hột đã nổi dậy và chiếm lĩnh vùng thảo nguyên — bộ lạc này vốn là một trong các bộ lạc Thiết Lặc ở phía bắc của Đông Đột Quyết.

Về sau, Hồi Hột đổi tên thành Hồi Cốt, đây là tổ tiên của người Duy Ngô Nhĩ ngày nay.

Năm 661, thủ lĩnh Hồi Hột là Bà Nhuận qua đời. Bà Nhuận vốn luôn hữu hảo với nhà Đường. Nhưng người kế vị là Tỷ Túc Độc lại quay sang đối địch với triều Đường.

Đường Cao Tông bèn lệnh cho Tiết Nhân Quý xuất chinh. Trước khi đi, Đường Cao Tông mở tiệc khoản đãi trong nội điện. Trong bữa tiệc, hoàng đế nói: “Xưa kia có người giỏi bắn cung, có thể xuyên qua bảy lớp giáp. Khanh hãy thử bắn xuyên năm lớp xem sao”.

Tiết Nhân Quý nhận lệnh, ông đặt năm bộ giáp chồng lên nhau rồi giương cung bắn. Chỉ nghe dây cung bật mạnh một tiếng, mũi tên đã xuyên suốt qua cả năm lớp áo giáp. Đường Cao Tông kinh ngạc, lập tức thưởng cho Tiết Nhân Quý một bộ giáp tốt.

Thế rồi Tiết Nhân Quý dẫn quân tiến đánh Hồi Hột, khi quân Đường tiến đến Thiên Sơn (là một ngọn núi tại Mông Cổ), thì thủ lĩnh Hồi Hột là Cửu Tính Thiết Lặc dẫn hơn mười vạn quân tiến ra chống cự, phái vài chục kỵ binh tinh nhuệ đến khiêu chiến. Tiết Nhân Quý chỉ trong nháy mắt bắn ra ba mũi tên, hạ gục ba người. Số kỵ sĩ còn lại khiếp vía trước thần uy, đều xuống ngựa xin hàng.

Lúc này, sĩ khí quân Đường dâng cao, Tiết Nhân Quý lập tức ra lệnh tiến quân, đánh tan quân Hồi Hột. Quân Đường liên tục truy kích, Cửu Tính Thiết Lặc đại bại. 

Khi Cửu Tính Thiết Lặc dẫn quân trở về, trong quân doanh lan truyền câu thơ rằng:

“Tướng quân tam tiễn định thiên sơn,
tráng sĩ trưởng ca nhập hán  quan”.

Có nghĩa là: Tướng quân Tiết Nhân Quý chỉ với ba mũi tên mà bình định được Thiên Sơn, sau đó có thể hiên ngang mà trở về đất Hán.

Từ đó, thế lực của Cửu Tính Thiết Lặc suy yếu, không còn có thể gây loạn ở biên giới nữa.

Đến năm Vĩnh Thuần nguyên niên (tức năm 682), A Sử Đức Nguyên Trân của Đột Quyết dẫn quân xâm nhập Vân Châu. Tiết Nhân Quý nhận lệnh dẫn quân đánh dẹp.

Khi đại quân nhà Đường tiến đến, bên phía Đột Quyết có người cất tiếng hỏi:
“Tướng nhà Đường là ai?”

Phía bên quân Đường, có một giọng nói vang vọng trả lời:
“Tiết Nhân Quý.”

Người Đột Quyết nói:
“Ta nghe nói Tiết tướng quân đã chết, sao có thể sống lại được?”

Tiết Nhân Quý liền cởi mũ giáp, trực tiếp ra gặp họ. Người Đột Quyết nhìn kỹ thì thấy đúng là Tiết Nhân Quý, một số người xuống ngựa mà bái lạy, một số kẻ thì lặng lẽ bỏ chạy.

Tiết Nhân Quý thấy quân Đột Quyết bắt đầu tan ra, ông lập tức ra lệnh truy kích, đánh tan quân Đột Quyết, chém hơn vạn người, bắt được ba vạn tù binh, thu được hơn ba vạn lạc đà, ngựa, trâu dê — lập nên trận Vân Châu đại thắng.

Mặc dù dưới thời Đường Cao Tông đã xuất hiện nhiều tướng lĩnh tài giỏi vô cùng, nhưng bản thân Đường Cao Tông lại có tính nhu nhược. Đến sau năm 660, người thực sự nắm quyền trong triều đình không còn là ông nữa.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Tùy Đường thịnh thế

Từ Hiên Viên Hoàng Đế 2 lần đi tìm Quảng Thành Tử cầu Đạo, Khổng Tử hướng đến Lão Tử học Đạo, rồi đến Phật giáo từ Ấn Độ truyền nhập về phương Đông; Nho, Phật, Đạo đã đặt định ra văn hóa trọng Đức hành Thiện, tin vào nhân quả ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>