Tập 129: Mông Cổ chinh phục Thổ Phồn và Đại Lý, Vương Kiên tử thủ ở thành Điếu Ngư

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 20/06/2026

Khi đại hãn Oa Khoát Đài Hãn còn tại vị, tuy rằng Mông Cổ vẫn liên tục giao chiến với Nam Tống, nhưng ông chưa thực sự hạ quyết tâm tiêu diệt. Vì vậy, thiết kỵ Mông Cổ phần nhiều chỉ lấy cướp bóc, quấy phá rồi rút quân. Trong khi đó, phía Nam Tống có Mạnh Củng trấn giữ vùng Tương Phàn, phòng thủ trung du Trường Giang; lại có Dư Giới phòng thủ miền Ba Thục, trọng địa ở thượng du Trường Giang. Bởi thế, trong giai đoạn ấy, Mông Cổ vẫn chưa thể tạo thành mối uy hiếp chí mạng đối với Nam Tống.

Nhưng sau khi Khả hãn Mông Kha lên ngôi, bắt đầu từ việc bình định nước Đại Lý, ông đã chính thức phát động cuộc chiến nhằm tiêu diệt Nam Tống. Thế nhưng, cuộc chiến ấy bất ngờ gặp phải một thất bại nghiêm trọng ngay dưới chân núi Điếu Ngư.

Khi nói về quan hệ đối ngoại của nhà Tống, chúng ta thường nói đến các cuộc chiến với Liêu, Kim, Tây Hạ và Mông Cổ. Nhưng trên thực tế, triều Tống còn có hai nước láng giềng khác: đó là Thổ Phồn và Đại Lý.

Thổ Phồn chính là vùng Tây Tạng, nơi đây từng có sự kiện Lãng Đạt Mã diệt phật. Sự kiện ấy xảy ra gần như nối tiếp với cuộc diệt Phật của Đường Vũ Tông. Khi đó, Phật giáo Tây Tạng đã chịu một đòn đả kích nặng nề, suýt nữa không thể gượng dậy. Hơn một trăm năm sau, đến đầu thời Bắc Tống, Phật giáo Tây Tạng mới dần phục hưng trở lại. Trong lịch sử, thời kỳ này được gọi là Hậu Hoằng kỳ.

Sau sự kiện Lãng Đạt Mã diệt Phật, Thổ Phồn rơi vào cục diện phân liệt. Mấy trăm năm sau, Phật giáo hồi phục và được truyền bá rộng rãi, nên người Thổ Phồn cũng không còn hiếu chiến xâm lược nữa. Vào thời Tống, giữa triều Tống và Thổ Phồn cũng từng xảy ra vài cuộc xung đột nhỏ, nhưng trách nhiệm phần nhiều đều nằm ở phía Bắc Tống.

Chúng ta nhìn lại sau loạn An Sử, Thổ Phồn khi ấy rất hung bạo, mang khí thế xâm lấn rất mạnh, quân Thổ Phồn từng đánh đến mức khiến hoàng đế Đại Đường phải chạy khỏi kinh thành, lưu vong nơi khác. Thế nhưng đến thời Tống, Thổ Phồn đã trở nên ôn hòa hơn rất nhiều. 

Khi ấy, ở phía tây nam của nước Tống còn có một quốc gia khác, đó là nước Đại Lý. Năm 937, đúng vào thời Ngũ Đại Thập Quốc, khi Trung Nguyên đang chìm trong máu lửa, thì một người Bạch tộc là Đoàn Tư Bình đã lập nên nước Đại Lý. Đến năm 1080, Dương Nghĩa Trinh đã giết hại hoàng đế Đại Lý rồi tự mình xưng đế. Cao Thăng Thái ở Thiện Xiển đã khởi binh dẹp loạn, tiêu diệt Dương Nghĩa Trinh, rồi lập Đoàn Thọ Huy lên ngôi.

Sang năm sau, Cao Thăng Thái cùng phụ thân lại lấy cớ thiên tượng biến đổi, cho rằng đó là điềm chẳng lành, họ ép Đoàn Thọ Huy thoái vị xuất gia, rồi đưa Đoàn Chính Minh lên kế vị. Sau Đoàn Chính Minh, trong một thời gian ngắn khoảng hai năm, Cao Thăng Thái từng soán vị xưng đế. Nhưng trước khi qua đời, vì các bộ tộc ở Vân Nam đều phản đối, Cao Thăng Thái đã dặn con mình là Cao Thái Minh phải trả lại triều đình cho họ Đoàn. Vì vậy, Cao Thái Minh lập em trai của Đoàn Chính Minh là Đoàn Chính Thuần lên làm hoàng đế nước Đại Lý.

Nước Đại Lý là một quốc gia vô cùng sùng kính đối với Phật giáo Mật tông. Trong 22 đời quốc vương Đại Lý, đã có tới 7 đời vua nhường ngôi rồi xuất gia làm tăng. Chính vì vậy, Đại Lý cũng không có tính xâm lược, họ luôn duy trì quan hệ hết sức hữu hảo với triều Tống.

Năm 1252, tức năm thứ 3 sau khi Đại hãn Mông Kha lên ngôi, ông ra lệnh cho em trai là Hốt Tất Liệt làm nguyên soái, phong Ngột Lương Hợp Đài, con trai của Tốc Bất Đài làm phó soái, chia quân làm ba đường để tiến đánh Đại Lý.

Nước Đại Lý nhỏ bé, binh lực yếu ớt, chỉ trong một trận đã diệt vong. Vị hoàng đế cuối cùng là Đoàn Hưng Trí đã đầu hàng. Sau đó, Hốt Tất Liệt quay về trị sở tại Kim Liên Xuyên, tức vùng phía đông bắc Trương Gia Khẩu, Hà Bắc, gần Nội Mông ngày nay; còn Ngột Lương Hợp Đài thì được lưu lại, tiếp tục quét sạch Vân Nam và An Nam. Trước khi chinh phục nước Đại Lý, quân Mông Cổ từng đi qua Thổ Phồn, rồi thuận thế khiến Thổ Phồn quy hàng.

Việc tiêu diệt nước Đại Lý và thu phục Thổ Phồn đều nhằm mục đích bao vây Nam Tống từ phía tây và phía nam. Vì vậy, sau khi giành thắng lợi ở hai nơi này, Đại hãn Mông Kha đã để em trai A Lý Bất Ca trấn giữ kinh đô Hòa Lâm, còn bản thân thì đích thân thống lĩnh đại quân nam chinh.

Lực lượng chủ yếu của Mông Cổ được chia làm ba lộ. Ở phía bắc, Hốt Tất Liệt chỉ huy quân từ Hà Nam tiến đánh Tương Phàn và Ngạc Châu, tức vùng Vũ Xương. Ở phía tây nam, Ngột Lương Hợp Đài dẫn quân tiến công Lưỡng Quảng. Còn Đại hãn Mông Kha thì tự mình thống lĩnh 4 vạn quân, ngoài mặt xưng là mười vạn, đại quân tiến đánh đất Thục.

Năm 1258, Đại hãn Mông Kha từ Lục Bàn Sơn, đi qua Bảo Kê, tiến vào Đại Tán Quan. Sau đó, quân Mông Cổ tràn vào Hán Trung, nhanh chóng đánh chiếm Kiếm Môn Quan, đến tháng 12 thì công hạ Lãng Châu. Lãng Châu chính là huyện Lãng Trung thuộc Tứ Xuyên ngày nay; nói cách khác, quân Mông Cổ đã đột phá rất sâu vào vùng trung bộ Tứ Xuyên.

Khi ấy, Dư Giới đang phòng thủ Tứ Xuyên, trọng điểm bố phòng chủ yếu đặt ở vùng đông nam đất Thục. Vì vậy, miền tây bắc rất nhanh chóng đã thất thủ, trong đó có Thành Đô, một lần nữa rơi vào tay quân Mông Cổ. Nhưng nếu Mông Cổ muốn tiếp tục đột phá phòng tuyến của quân Tống, men theo Trường Giang mà xuôi dòng xuống phía đông, thì nhất định phải đánh chiếm những tòa sơn thành do Dư Giới xây dựng. Trong số đó, nơi khó công phá nhất chính là Hợp Châu, tức vùng Trùng Khánh ngày nay.

Lúc bấy giờ, tướng trấn thủ của Nam Tống là Vương Kiên, ông dựa vào địa thế hiểm yếu của thành Điếu Ngư, quyết tử chống lại Mông Cổ. Điếu Ngư là một tòa sơn thành, tức là thành trì được xây trên núi. Quân Mông Cổ rất khó dùng hỏa pháo để tấn công, kỵ binh cơ động và cung nỏ mà họ tự hào cũng mất đi lợi thế, cuối cùng buộc phải dùng thang mây mà trèo lên. Quân Tống trong thành quyết tử thủ, liên tục bắn tên và ném đá xuống dưới. Đại hãn Mông Kha đích thân đến để chỉ huy đại quân. Từ tháng 2 năm 1259, quân Mông Cổ liên tục công thành, mãi cho đến tháng 7.

Khi ấy, tướng tiên phong của Mông Cổ là Uông Đức Thần đã dẫn theo binh sĩ tinh nhuệ, nhân lúc đêm tối trèo lên ngoại thành Hợp Châu. Vương Kiên lập tức thống lĩnh quân sĩ nghênh chiến. Uông Đức Thần một mình cưỡi ngựa đến dưới chân thành, lớn tiếng gọi: “Vương Kiên, ta đến đây là để cứu sống dân chúng trong cả tòa thành của ngươi. Hãy sớm đầu hàng đi!” Lời vừa dứt, từ trên thành bỗng có một tảng đá bay xuống, đập trúng Uông Đức Thần, khiến ông ta chết ngay tại trận.

Đúng lúc ấy, trời đổ mưa lớn. Thang mây công thành bị gãy, quân Mông Cổ buộc phải dừng cuộc tấn công. Còn toán quân Mông Cổ đã leo được lên thành thì bị quân Tống tiêu diệt. Đại hãn Mông Kha bị cầm chân dưới một tòa thành kiên cố. Đến ngày 21 tháng 7, ông đột nhiên qua đời, hưởng thọ 52 tuổi.

Đại hãn Mông Kha qua đời, kế hoạch tiêu diệt Nam Tống của Mông Cổ ngay lập tức khựng lại. Phải đến 9 năm sau, tức năm 1268, Mông Cổ mới một lần nữa phát động đại quân đánh Tống. Nếu Nam Tống biết tận dụng 9 năm ấy để chỉnh đốn quân đội, rèn luyện võ bị, thì với dân số đông đảo, tài phú dồi dào, lại thêm phòng tuyến Trường Giang hiểm trở, và sơn thành ở Ba Thục, thì việc kháng cự Mông Cổ hoàn toàn là điều có thể.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Lưỡng Tống phồn hoa.

Gần đây hai chữ “tu luyện” được sử dụng nhiều trong cuộc sống hằng ngày, dường như chỉ trải qua một chút nỗ lực và mài dũa, liền có thể đạt được mục tiêu nào đó trong cuộc sống. Thực ra, hai chữ “tu luyện” này là câu trả lời cho ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>