Tập 138: Điểm lại những thành tựu triết học trong thời Lưỡng Tống

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 24/06/2026

Từ thời Lưỡng Tống, phần lớn từ khúc đều thuộc phái Uyển ước — điều này có liên quan mật thiết đến trạng thái sinh hoạt của tầng lớp trí thức đương thời. Khi ấy, triều đình dành cho người đọc sách địa vị xã hội rất cao; những người làm quan thì được bổng lộc vô cùng trọng hậu. Nhờ vậy, họ vừa có thời gian nhàn rỗi, vừa có tiền của dư dả, có thể sống một đời thong dong, ung dung tự tại.

Vậy còn cuộc sống của những người bình dân phổ thông thì sao? Chúng ta có thể từ bức tranh ‘Thanh Minh thượng hà đồ’ mà thoáng thấy được cảnh phồn hoa của thời Lưỡng Tống. Khi ấy, có Khai Phong, Lạc Dương, Tô Châu, Hàng Châu, Quảng Châu, cùng nhiều nơi khác đều là những đại đô thị cực kỳ thịnh vượng.

Đời sống của người dân thời Lưỡng Tống cũng rất sung túc. Bấy giờ, rất nhiều gia đình hiếm khi tự nhóm bếp nấu cơm; họ thường ra tửu quán để dùng bữa, hoặc gọi món mang đến tận nhà. Văn hóa ẩm thực vì thế phát triển vô cùng rực rỡ. Mùa đông, người ta cất trữ băng; đến mùa hè lại có thể dùng đồ uống lạnh. Ngay cả những gia đình bình thường cũng đủ sức tiêu dùng những thứ ấy.

Người thời Tống ăn khá nhiều thịt bò, thịt dê; còn thịt lợn thì thường là món của người nghèo. Tô Đông Pha từng viết một bài từ, trong đó nhắc đến lúc ông bị biếm chức đến Hoàng Châu, vì không có tiền nên đành phải ăn thịt lợn. Khi ấy, giá thịt lợn rẻ mạt như bùn đất, gần như chẳng đáng bao nhiêu.

Thời Lưỡng Tống không có lệnh giới nghiêm vào ban đêm. Chợ đêm thường náo nhiệt cho đến canh ba mới tan, nhưng đến canh năm đã lại thắp đèn mở hàng, ngày nào cũng như thế. Trên khắp phố lớn ngõ nhỏ, đủ loại hí kịch, tạp kỹ, trò diễn dân gian chen nhau hiện diện, tạo nên một bức tranh đô thị sống động và phồn vinh.

Ngoài hí kịch, khi ấy còn có một hình thức nghệ thuật gọi là bình thoại, tức là kể chuyện. Nội dung thường là lịch sử, hoặc chuyện thần tiên, huyền ảo. Những tác phẩm mà đời sau chúng ta biết đến như Tam Quốc diễn nghĩa và Tây du ký, một phần nội dung của chúng thì ngay từ thời Tống đã được các nghệ nhân đem ra kể chuyện rồi.

Vào thời Tống, tầng lớp trí thức được triều đình coi trọng, Nho học cũng phát sinh những biến đổi rất lớn.

Trong lòng tầng lớp trí thức khi ấy dần dần hình thành một loại sứ mệnh — họ muốn đem đạo lý và tài học của mình ra để chỉnh đốn thế đạo, cứu giúp muôn dân. Đây cũng có thể xem là sự uốn nắn, phản tỉnh đối với tình trạng đạo đức suy đồi từ cuối đời Đường đến thời Ngũ Đại Thập Quốc.

Khi ấy, các bậc sĩ nhân rất tôn trọng danh tiết, coi trọng khí tiết và thanh danh của bậc quân tử. Họ cũng thông qua việc giảng học để truyền bá quan niệm đạo đức Nho gia. Từ thời Bắc Tống, chế độ thư viện bắt đầu phát triển tương đối thành thục. Trong một hoàn cảnh thanh tĩnh, học trò lắng nghe thầy giảng đạo lý tu thân dưỡng đức; rồi từ những đạo lý ấy, họ đem áp dụng vào từng lời nói, từng việc làm trong sinh hoạt thường ngày của mình.

Địa vị của tầng lớp trí thức thời Tống đặc biệt cao. Triều Tống là thời đại trọng văn ức võ, tức là đề cao văn trị, hạn chế võ tướng; cũng chính trong hoàn cảnh ấy, Nho học đã đạt được sự phát triển rất lớn.

Sự phát triển của Nho học trong thời kỳ này có điểm khác biệt so với trước kia. Vào thời Tống, các trí thức Nho gia mang trong mình một tấm lòng ‘cứu đời giúp người’, họ muốn đem sở học ra để chỉnh đốn thế đạo, cứu giúp muôn dân. Trước đây, người đọc sách ra làm quan phần nhiều chỉ dừng ở việc tu thân, tề gia, hoàn thành bổn phận cá nhân và gia tộc là đủ. Nhưng đến thời Tống, các nho sinh lại có một tinh thần lớn hơn: lấy thiên hạ làm trách nhiệm của mình.

Thời Bắc Tống có một nhà Lý học tên là Trương Tái, cũng gọi là Trương Hoành Cừ. Ông từng nói bốn câu vô cùng nổi tiếng, rằng người đọc sách phải: “Vì trời đất lập tâm, vì sinh dân lập mệnh, vì bậc thánh hiền nối lại tuyệt học, vì muôn đời sau mở ra thái bình”.

Trong mấy câu ấy có một loại cảm giác gần như ‘tôn giáo’, có một chí nguyện muốn tự mình giác ngộ, rồi lại giúp người khác giác ngộ — tức là tinh thần tự giác giác tha. Còn việc người ta có thật sự làm được hay không, đó lại là chuyện khác. Nhưng ít nhất, lý tưởng ấy đã biểu hiện một sự phản tỉnh mạnh mẽ đối với xu thế đạo đức sa sút sau thời loạn An Sử, trong thời loạn ấy, không ít kẻ trí thức chỉ biết chạy theo danh lợi, thậm chí có phần vô liêm sỉ. Chính vì muốn xoay chuyển dòng suy đồi ấy, giới trí thức thời Tống đều đặc biệt tôn trọng danh tiết, coi trọng thanh danh, khí tiết và phẩm cách của người quân tử.

Còn một biến hóa nữa, đó là Nho gia dần trở nên có màu sắc tôn giáo hóa rõ rệt. Điều này chịu ảnh hưởng từ tư tưởng của Thiền tông và Đạo gia.

Con đường minh tâm kiến tính của Thiền tông, cùng với chế độ tùng lâm — tức là phương thức quản lý tự viện một cách có quy củ, có chế độ — đã tạo ảnh hưởng rất lớn đối với tầng lớp trí thức và các thư viện học thuật đương thời.

Ngoài ra, Nho gia vốn là một loại triết học nhập thế, chú trọng tu dưỡng đạo đức nơi nhân gian. Nhưng đến thời Tống, Nho gia bắt đầu nghiên cứu về vũ trụ quan, đồng thời nỗ lực kiến lập một hệ thống triết học có thể giải thích trời đất, vũ trụ và vạn vật. Chính điều này khiến Nho gia dần dung hợp thêm học thuyết Thái Cực và âm dương của Đạo gia, từ đó hình thành nên một hệ thống triết học thời Tống được gọi là Tân Nho gia.

Thế nhưng, Nho gia có trách nghiệm duy trì và nâng đỡ đạo đức thế gian; nó không thể khởi được tác dụng như tôn giáo chân chính, không thể đưa con người đạt đến cảnh giới siêu thoát khỏi luân hồi. Sau khi Nho gia dung nhập thêm các lý niệm của Thiền tông và Đạo gia, nó dần hình thành nên Lý học, cũng gọi là Đạo học. Cũng từ Đạo học mà người ta kiến lập nên khái niệm “đạo thống”  — tức là mạch truyền thừa chính thống của đạo lý.

Những gì phù hợp với hệ thống ấy thì được xem là chính thống; còn những gì không phù hợp thì bị coi là phi chính thống. Trong Tống sử thậm chí còn có riêng một thiên là ‘Đạo học truyện’ để chuyên luận giảng và giải thích về vấn đề này.

Người đầu tiên đem học vấn Nho gia mở rộng đến tầng diện thảo luận về bản thể vũ trụ chính là Chu Đôn Di, ông dùng Thái Cực đồ  để giải thích quá trình diễn hóa của vũ trụ. Đạo gia chủ trương vô vi, Thiền tông đề xướng vô tâm, còn Chu Đôn Di thì đề cao vô dục. Thực ra, ba điều ấy có nhiều chỗ tương thông.

Sau Chu Đôn Di, lại có Trương Tái và Nhị Trình. Họ được gọi là bốn đại Lý học gia thời Bắc Tống. “Nhị Trình” tức hai anh em Trình Hạo và Trình Di.

Từ thời Nhị Trình trở đi, Tân Nho gia bắt đầu phân thành hai học phái lớn. Học phái của người anh là Trình Hạo, về sau được Lục Cửu Uyên thời Nam Tống tiếp nối, rồi đến Vương Dương Minh thời Minh thì hoàn thành hệ thống, được gọi là Tâm học , hoặc Lục Vương tâm học.

Còn học phái của người em là Trình Di, về sau được Chu Hy thời Nam Tống kế thừa, được gọi là Trình Chu Lý học. Thế lực và ảnh hưởng của Trình Chu Lý học lớn hơn rất nhiều. Về sau, suốt các triều Nguyên, Minh, Thanh, nội dung khoa cử đều lấy Lý học làm căn bản để khảo thí.

Trình Chu Lý học giảng về cách vật trí tri, tức là thông qua việc nghiên cứu một sự vật cụ thể mà suy xét cho thấu cái “lý” ẩn chứa trong đó, từ ấy tiến thêm một bước để nhận thức vũ trụ. Còn Lục Vương tâm học thì cho rằng tâm chính là lý, không cần phải hướng ra bên ngoài mà truy cầu

Trước khi Tân Nho gia phân thành các học phái khác nhau, còn có một nhân vật rất quan trọng, tên là Thiệu Ung. Thiệu Ung, tự là Nghiêu Phu, thụy hiệu là Khang Tiết. Vì vậy, người đời sau phần nhiều gọi ông là Thiệu Khang Tiết. Thiệu Ung là một bậc đại gia về Dịch học, thông qua suy diễn từ Kinh Dịch, ông viết nên một bộ sách gọi là Hoàng Cực Kinh Thế, trong đó có những suy đoán về niên phổ của thế giới này.

Trong sử sách Trung Quốc, mốc bắt đầu có niên đại xác thực là năm 841 trước Công nguyên, tức là thời kỳ Chu Thiệu cộng hòa, tức là thời kỳ mà Chu công và Thiệu công cùng chấp chính.  Còn những sự việc xảy ra trước đó rốt cuộc thuộc năm nào, hoặc trước các triều Hạ, Thương, Tây Chu, có bao nhiêu vị đế vương, mỗi vị trị vì bao nhiêu năm, thì đều không thể căn cứ vào sử thư mà suy tính rõ ràng được. Nhưng trong Hoàng Cực Kinh Thế của Thiệu Ung, ông đã đưa ra những suy đoán rất tường tận về các vấn đề ấy.

Là một bậc đại gia Dịch học, Thiệu Ung còn sáng lập ra một phương pháp bói toán có hệ thống, gọi là Mai Hoa Dịch Số. Dựa trên đó, ông lại viết mười bài thơ tiên tri về những đại sự trong thiên hạ, gọi là Mai Hoa Thi. Đây là một hệ thống dự ngôn về tương lai, xuất hiện sau Thôi Bối Đồ, tiếp tục nối thêm một mạch huyền cơ trong văn hóa tiên tri của Trung Hoa.

Bài thứ nhất trong Mai Hoa Thi viết rằng:

Đãng đãng thiên môn vạn cổ khai,
Kỷ nhân quy khứ kỷ nhân lai,
Sơn hà tuy hảo phi hoàn bích,
Bất tín hoàng kim thị hoạ thai.

Tạm dịch là:

“Cửa trời mênh mang, vạn cổ mở ra;
Bao người trở về, bao kẻ lại đến.
Non sông tuy đẹp, nhưng chẳng còn là viên ngọc toàn vẹn;
Không tin rằng vàng kim lại chính là mầm họa.”

Trong đó có câu “Non sông tuy đẹp, nhưng chẳng còn là viên ngọc toàn vẹn”, là chỉ giang sơn của Bắc Tống khi ấy tuy là phồn hoa, nhưng lãnh thổ đã không còn hoàn chỉnh, bởi vùng Yên Vân thập lục châu ở phương Bắc đang bị nước Liêu chiếm giữ.

Còn câu “Không tin rằng vàng kim lại chính là mầm họa” chính là nói đến việc triều đình Bắc Tống liên hợp với nước Kim để tiêu diệt nước Liêu. Họ không tin rằng nước Kim kia lại sẽ trở thành mầm đại họa, để rồi cuối cùng dẫn đến nỗi nhục Tĩnh Khang, một biến cố khiến sơn hà đổi chủ, hoàng thất bị bắt, để lại vết thương sâu nặng trong sử sách.

Trong phần cuối của loạt bài ‘Tùy Đường thịnh thế’, chúng tôi từng nhắc đến Thôi Bối Đồ. Lời tiên tri trong Thôi Bối Đồ về sự diệt vong của Bắc Tống là như thế này:

Yêu phân vị tĩnh bất khang ninh,
Bắc tảo phong yên vọng đế kinh,
Dị tính lập triều chung quốc vị,
Nốc thế tam lục hựu nam hành.

Tạm dịch là:

“Yêu khí chưa yên, chẳng được khang ninh;
Khói lửa quét về phương Bắc, ngoảnh trông đế kinh.
Kẻ khác họ lập triều, ngôi nước đến hồi tận;
Ba với sáu đời qua, lại dời về phương Nam”

Nội dung được nói đến trong mấy câu này kỳ thực rất rõ ràng. Trong câu “Yêu phân vị tĩnh bất khang ninh” có ẩn hai chữ “Tĩnh Khang”, hiển nhiên là chỉ nỗi nhục Tĩnh Khang.

Câu “yêu khí chưa yên” là nói đến đạo sĩ giả Quách Kinh. Ông ta tự xưng là có thể điều động Lục Giáp thần binh, kết quả lại khiến quân Tống mở thành ra nghênh chiến, cuối cùng dẫn đến việc Biện Kinh thất thủ.

Câu thứ hai, “Khói lửa quét về phương Bắc, ngoảnh trông đế kinh”, chính là chỉ việc hoàng đế Huy Tông, Khâm Tông bị bắt đưa về phương Bắc. Có lẽ họ từng ngoảnh đầu nhìn về kinh đô của mình.

Câu “Kẻ khác họ lập triều, ngôi nước đến hồi tận” là chỉ việc Trương Bang Xương được dựng lên làm hoàng đế nước Đại Sở.

Còn câu “Ba với sáu đời qua, lại dời về phương Nam”, ba cộng sáu thành chín, tức là Bắc Tống truyền được chín đời hoàng đế; sau đó triều đình phải dời xuống phương Nam, mở ra cục diện Nam Tống.

Lời tiên tri trong Thôi Bối Đồ về sự diệt vong của Nam Tống cũng rất rõ ràng, viết rằng:

Thập nhất bốc nhân tiểu nguyệt chung
Hồi thiên vô lực đạo câu cùng
Can qua tứ khởi nghi vô lộ
Chỉ điểm hồng đào cự lãng trung.

Tạm dịch là:

Mười một, bói, người, trăng nhỏ đến hồi tận;
Xoay chuyển trời cao đã vô lực, đạo cũng cùng đường.
Can qua bốn phía nổi lên, tưởng chừng không còn lối thoát;
Cuối cùng chỉ còn chỉ về giữa sóng lớn nước dâng.”

Trong câu “Mười một, bói, người, trăng nhỏ đến hồi tận” kỳ thực là một câu đố chữ. Chữ “mười” (十), cộng thêm “một” (一), cộng thêm “bói” (卜), “người” (人), “nhỏ” (小), “trăng” (月), hợp lại chính là chữ “Triệu” dạng phồn thể (趙). Đây là họ của hoàng thất nhà Tống.

Những câu phía sau nói rằng họ Triệu đã đi đến bước đường cùng, không còn lối thoát. Cuối cùng, Lục Tú Phu cõng vị tiểu hoàng đế nhảy xuống biển mà chết. Vì vậy mới có câu “chỉ về giữa sóng lớn nước dâng”.

Trong tượng này của Thôi Bối Đồ còn nhắc đến bốn chữ “sơn nhai hải biên”, nghĩa là bên núi, cạnh biển. Trong đó, hai chữ “sơn nhai” nếu đọc đảo lại thì thành Nhai Sơn, cũng chính là nơi Nam Tống diệt vong. Bởi vậy, sự diệt vong của Nam Tống kỳ thực cũng là điều đã có định số.

Còn bài thơ trong Mai Hoa Thi của Thiệu Ung, khi tiên tri về sự diệt vong của Nam Tống thì viết rằng:

Hồ sơn nhất mộng sự toàn phi,
Tái kiến vân long hướng bắc phi.
Tam bách niên lai chung nhất nhật,
Trưởng thiên bích thuỷ thán my my.

Tạm dịch là:

“Hồ sơn một giấc mộng, vạn sự đều đổi khác;
Lại thấy mây rồng bay ngược về phương Bắc.
Ba trăm năm cơ nghiệp, rốt cuộc chấm dứt trong một ngày;
Trời dài nước biếc, chỉ còn tiếng than mênh mang bất tận.”

Trong đó, hai câu “Ba trăm năm cơ nghiệp, rốt cuộc chấm dứt trong một ngày; trời dài nước biếc, chỉ còn tiếng than mênh mang bất tận” là chỉ giang sơn nhà Tống tổng cộng kéo dài 320 năm, nhưng cuối cùng chỉ trong một sớm mà kết thúc. Sau cùng, triều đại ấy mất giữa trời cao nước biếc, cũng là hình ảnh về vị tiểu hoàng đế gieo mình xuống biển, để lại một tiếng thở dài bi tráng giữa nghìn trùng sóng nước.

Bất kể trong lòng chúng ta cảm thấy sự diệt vong của Đại Tống đáng tiếc đến nhường nào, lịch sử rốt cuộc vẫn có định số và an bài của nó.

Lưỡng Tống giống như là một vương triều mộng ảo, không chỉ vì kinh tế và văn hóa từng phồn hoa rực rỡ như một giấc mộng, mà còn bởi đúng như Thiệu Ung từng dự ngôn: giấc mộng phồn hoa ấy, cuối cùng cũng có lúc phải tỉnh. Quốc vận của Nam Tống đã chuyển dời về phương Bắc, rơi vào tay vị đại hãn nơi thảo nguyên là Hốt Tất Liệt. Vì vậy, trong Mai Hoa Thi mới có câu:

“Hồ sơn một giấc mộng, vạn sự đều đổi khác;
Lại thấy mây rồng bay ngược về phương Bắc.”

Phần lịch sử mang tên Lưỡng Tống phồn hoa, bắt đầu kể từ thời loạn An Sử, rồi lần lượt đi qua thời Ngũ Đại Thập Quốc, Bắc Tống, Nam Tống, cho đến trận hải chiến Nhai Sơn, nơi Nam Tống diệt vong. Đến đây, chúng tôi xin được khép lại.

Cảm ơn các bạn đã theo dõi.

Hẹn gặp lại ở phần sau: Đại Minh vương triều.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Lưỡng Tống phồn hoa.

Có một điều kỳ lạ xảy ra vào ngày 25/04/1999, đến nay vẫn chưa có lời giải đáp. Đó là một tình tiết trong câu chuyện giữa thủ tướng Trung Quốc thời bấy giờ là ông Chu Dung Cơ và 3 học viên Pháp Luân Công đi cùng ông vào bên ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>