Tập 137: Điểm lại những thành tựu văn học trong thời Lưỡng Tống

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 24/06/2026

Trong thời nhà Tống,ngành thủ công phát triển vô cùng rực rỡ, đặc biệt là nghề chế tác đồ sứ. Gốm sứ thời Tống vang danh khắp thiên hạ; đồ sứ Cảnh Đức Trấn cũng bắt đầu nổi danh từ đó.

Nhưng đó vẫn chưa phải là những loại gốm sứ tuyệt phẩm nhất. Đương thời, các danh diêu như Định diêu, Nhữ diêu, Quan diêu, Ca diêu và Quân diêu, mỗi loại đều muôn vẻ nghìn sắc, có phong thái riêng, có sở trường riêng, cùng làm nên một thời đại huy hoàng của nghệ thuật gốm sứ.

Ngoài ra, thư pháp và hội họa cũng đạt tới đỉnh cao vào thời Tống. Tống từ lại có thể sánh vai cùng thơ Đường, trở thành một tấm bia lớn sừng sững trong văn đàn Trung Hoa.

Văn đàn thời Tống có thể nói là quần tinh rực rỡ. Trong “Đường Tống bát đại gia”, thời Đường chỉ có hai người là Hàn Dũ và Liễu Tông Nguyên; sáu người còn lại đều sống vào thời Tống.

Văn học của một thời đại, kỳ thực chính là tấm gương phản chiếu tinh thần của thời đại ấy. Trong thơ Đường, có rất nhiều bài thơ mang khí phách vô cùng rộng lớn. Nam nhi thời Đường ôm chí lớn, muốn lập công nơi biên ải, mở mang cương thổ, nên bài thơ viết ra cũng hào hùng, tráng liệt, ngút ngàn khí tượng.

Đến thời Tống thì không còn được như vậy nữa. Phần lớn kẻ sĩ đại phu, giới trí thức thời Tống thường gửi lòng vào phong hoa tuyết nguyệt, cho nên thơ Tống xét về khí phách thì kém xa thơ Đường. Nhưng các bài từ của thời Tống lại có phong cách riêng biệt, độc lập thành một cảnh giới, trở thành tấm bia lớn mà hậu thế khó lòng vượt qua.

Thể loại “từ” với tư cách một hình thức văn học, thực ra đã xuất hiện từ thời Trung Đường và Vãn Đường. Nhưng vào thuở ban đầu, số lượng tác phẩm từ được sáng tác vẫn còn rất ít. Những nhân vật như Lý Bạch, Lưu Vũ Tích, Ôn Đình Quân đều từng sáng tác “từ” — tức là đặt lời theo làn điệu. Tuy nhiên, ban đầu người ta vẫn chưa có khái niệm rõ ràng về “từ”, tức tên làn điệu dùng làm khuôn mẫu để viết từ. Mãi đến thời Vãn Đường, Ôn Đình Quân mới sáng tạo ra rất nhiều bài từ.

Đến thời Ngũ Đại, Trung chủ Lý Cảnh và Hậu chủ Lý Dục của Nam Đường đều là những từ nhân nổi tiếng. Đặc biệt, bài từ của Lý Dục được truyền tụng rộng rãi, đi vào lòng người, trở thành những áng văn chương khiến hậu thế mãi còn ngâm vịnh.

Các bài từ ở thời ấy phần nhiều là tương đối ngắn, còn được gọi là “tiểu lệnh”. Đến thời Nam Tống, độ dài của bài từ dần tăng lên, có những bài dài gần như thành một thiên văn chương hoàn chỉnh, được gọi là “trường điệu”. Thể loại “Từ” trong thời Tống có thể chia thành hai dòng lớn: phái Uyển ước và phái Hào phóng. Tuy vậy, tuyệt đại đa số các tác phẩm từ đều thuộc về phái Uyển ước.

Nhân vật tiêu biểu của phái Uyển ước có rất nhiều. Ở Bắc Tống, có hai cha con Yến Thù, Âu Dương Tu, Trương Tiên, Tần Quán, Lý Thanh Chiếu, v.v. đều là những đại từ nhân vang danh một thời. Còn đại biểu của phái Hào phóng thì có Tô Thức và Tân Khí Tật. Đương nhiên, đây chỉ là cách phân chia tương đối khái quát. Bởi vì ngay cả Tô Thức và Tân Khí Tật cũng từng sáng tác rất nhiều bài từ mang phong cách uyển ước. Trên thực tế, giới trí thức đương thời hầu như ai cũng giỏi điền từ.

Tiểu lệnh thời Bắc Tống vốn được dùng để ca hát, vì thế yêu cầu đối với bình trắc và gieo vần rất cao; bài từ lại nhiều, nên muốn viết cho hay thì cũng không hề dễ hơn luật thi. Vào khoảng trung kỳ Bắc Tống, trường điệu bắt đầu xuất hiện — tức là những bài từ dài hơn, có khi dài gần như một thiên văn ngắn.

Còn các bài tiểu lệnh thì có dư vị riêng, hàm súc mà sâu xa. Hơn nữa, bài từ càng ngắn thì yêu cầu đối với từng chữ càng phải tinh luyện; một chữ đặt xuống cũng phải có thần, một câu buông ra cũng phải ngân vang dư ý.

Nội dung của Tống từ phần nhiều nói về nỗi sầu khổ trong tình cảm cá nhân. Ở đây, chúng tôi sẽ giới thiệu sơ lược vài nhân vật tiêu biểu của Tống từ.

Ban đầu, vào buổi sơ kỳ nhà Tống, những đại biểu nổi bật có Yến Thù, Âu Dương Tu, Trương Tiên, Phạm Trọng Yêm v.v. Họ đã để lại rất nhiều danh cú bất hủ, trải qua nghìn năm, vẫn còn được người đời truyền tụng.

Sau những nhân vật ấy, còn có một đại biểu khác của phái Uyển ước, đó là Liễu Vĩnh, cũng là một từ nhân sống vào thời Tống Nhân Tông. Thế nhưng người này để lại ấn tượng không quá tốt, bởi vì đời sống của ông tương đối phóng túng. Nhưng không thể phủ nhận rằng, bài từ của ông cũng từng được lưu truyền rất rộng vào thời Bắc Tống. Chẳng hạn như câu “bờ dương liễu, gió sớm trăng tàn” trong bài “Vũ Lâm Linh”; hay như câu “áo đai dần rộng không hối tiếc, vì người mà thân ta tiều tụy” trong bài “Điệp Luyến Hoa”, đó đều là những danh cú mà rất nhiều người vẫn ngâm nga, ca hát. Đương thời còn có câu rằng: “Phàm nơi nào có nước giếng, nơi ấy đều có người hát từ của Liễu Vĩnh” — đủ thấy sức lan tỏa của Liễu từ lúc bấy giờ rộng lớn đến nhường nào.

Thế nhưng, Tô Thức rất xem thường lối sống phóng túng của Liễu Vĩnh. Bản thân Tô Thức là một ngôi sao lớn rực rỡ trên văn đàn Bắc Tống. Khi Âu Dương Tu đọc văn của Tô Thức, từng cảm thán rằng: “Ta nên tránh người này một bước, nhường cho ông ấy vượt lên trên” — đủ thấy thấy tài văn chương của Tô Thức đã khiến bậc đại gia tiền bối cũng phải kinh ngạc.

Tô Thức vừa là nhà tản văn, vừa là thi nhân, từ nhân, lại còn là đại thư pháp gia. Địa vị của ông trên thi đàn thời Tống có thể sánh với địa vị của Lý Bạch trên thi đàn thời Đường. Những câu thơ như: “Hình dáng Lư sơn không thấy thật, vì thân ở giữa núi non này”, có mang triết lý sâu xa, khiến người đọc càng ngẫm càng thấy thấm thía.

Không chỉ vậy, Tô Thức còn khai sáng nên phái Hào phóng trong Tống từ. Con đường làm quan của ông vô cùng gập ghềnh, nhiều lần bị giáng chức, bị đày đi xa. Nhưng cũng chính trong cơn phong ba hoạn nạn ấy, thành tựu văn học của ông lại càng ngày càng lên tới cảnh giới cao hơn.

Tô Thức từng bị biếm chức đến Hoàng Châu, giữ chức Đoàn luyện phó sứ, và tại đó ông đã viết nên bài từ nổi tiếng là “Niệm Nô Kiều – Xích Bích hoài cổ”. Với câu mở đầu là: “Sông lớn cuộn chảy về đông, cuốn trôi hết thảy anh hùng phong lưu”, đã trở thành âm vang tiêu biểu của phái Hào phóng.

Những danh thiên mà Tô Thức để lại rất nhiều. Chẳng hạn bài “Thủy Điệu Ca Đầu” với câu: “Trăng sáng có tự bao giờ? Tay nâng chén rượu hỏi trời xanh cao”. Ông còn viết bài “Giang Thành Tử” để tưởng niệm người vợ đã khuất, từng chữ đều thấm đẫm nỗi tương tư, bi ai lay động lòng người. Còn trong bài “Định Phong Ba” có câu: “Ngoảnh đầu nhìn lại chốn tiêu điều, trở về thôi; không còn mưa gió, chẳng còn trời quang”, có cảm giác khoáng đạt, siêu thoát bụi trần.

Bắc Tống còn có một nữ nhân giỏi về từ, thuộc phái Uyển ước, đó là Lý Thanh Chiếu. Bà sinh ra trong một gia đình môn đệ thư hương, từ nhỏ đã sống trong cảnh sung túc, được nuôi dưỡng giữa sách vở và văn chương.

Về sau, bà lấy được người chồng như ý tên là Triệu Minh Thành. Hai vợ chồng tâm đầu ý hợp, thường cùng nhau uống rượu, ngâm thơ, xướng họa, lại cùng sưu tập kim thạch, thư họa — đó là những bia khắc, đồ cổ, thư pháp và tranh vẽ. Có thể nói, đó quả là một đoạn nhân sinh tao nhã, thanh quý hiếm có.

Đáng tiếc, cảnh đẹp chẳng thể kéo dài. Sau nỗi nhục Tĩnh Khang, Lý Thanh Chiếu và phu quân phải phiêu bạt chạy xuống Giang Nam. Không lâu sau, người chồng lâm bệnh qua đời; những bức thư họa, kim thạch quý giá đến mức “liên thành” mà hai người từng dày công sưu tầm, giờ đây cũng thất lạc gần hết.

Sau đó, Lý Thanh Chiếu tái giá với một kẻ chẳng khác nào thổ phỉ, rồi chính bản thân bà cũng vì chuyện ấy mà bị liên lụy vào chốn lao ngục. Vì thế, rất nhiều bài từ của Lý Thanh Chiếu đều thấm đẫm nỗi cảm thương cho thân thế và vận mệnh của mình. Những lời ấy chính là bức chân dung chân thực của một cõi lòng đã trải qua ly tan loạn nạn, mất mát và tang thương.

Phu quân của Lý Thanh Chiếu là Triệu Minh Thành, cũng rất giỏi điền từ, nhưng vẫn không viết hay bằng vợ. Có một lần, Triệu Minh Thành không phục, ông bèn viết mấy chục bài từ, rồi lén đem một bài của Lý Thanh Chiếu trộn lẫn vào trong đó. Sau đó, Triệu Minh Thành hỏi bạn bè của mình rằng: “Trong những bài từ này, bài nào là hay nhất?” Không ngờ, người bạn ấy chỉ nhìn qua thôi mà đã chọn đúng bài của Lý Thanh Chiếu.

Vì thế, bài từ của Lý Thanh Chiếu quả thực là đẳng cấp hơn hẳn so với những người khác. Từng câu từng chữ của bà dường như đều có linh khí riêng, vừa thanh lệ, vừa bi thương, khiến người đời sau đọc lên mà vẫn cảm thấy dư âm còn vương vấn.

Đến thời Nam Tống, có một vị từ nhân được đặt ngang hàng với Tô Thức, ông cũng là nhân vật đại biểu của phái Hào phóng, đó chính là Tân Khí Tật.

Tân Khí Tật sinh ra trên đất Kim, thuở thiếu niên đã khởi binh kháng Kim rồi quy thuận nhà Tống. Ông vừa là tướng quân, vừa mang phong cốt của một hiệp khách. Khi Hải Lăng vương – Hoàn Nhan Lượng phái đại quân tiến đánh Nam Tống, thì bị Ngu Doãn Văn đánh bại ở Thái Thạch, hậu phương nước Kim khi ấy cũng dậy sóng. Rất nhiều người Hán vì bất mãn với chính sách hà khắc của Hải Lăng vương mà nổi lên phản kháng.

Tân Khí Tật huy động được hai nghìn người, gia nhập vào một cánh nghĩa quân do Cảnh Kinh lãnh đạo. Về sau, Cảnh Kinh bị kẻ phản bội Trương An Quốc sát hại. Tân Khí Tật nghe tin, liền dẫn hơn 50 người tập kích doanh trại địch, mà đối phương có tới mấy vạn quân. Vậy mà ông vẫn bắt sống được tên phản đồ, áp giải về Kiến Khang, giao cho triều đình Nam Tống.

Những bài từ của Tân Khí Tật có cảm giác vô cùng hào mại, khí tượng rộng lớn. Như trong bài “Nam Hương Tử”, ông viết: 

“Ở đâu có thể ngắm Thần châu?
Trước mắt ngút ngàn nơi đất bắc
Muôn đời hưng vong biết bao chuyện
Trường Giang cuồn cuộn chảy không ngừng”

Trong bài “Phá Trận Tử”, ông viết:

“Trong cơn say khêu đèn ngắm kiếm,
tiếng tù và vang khắp liên doanh.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Lưỡng Tống phồn hoa.

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>