Năm 1259, Đại hãn Mông Kha tử trận dưới chân núi Điếu Ngư. Đến khi Mông Cổ một lần nữa phát binh đánh Nam Tống, thì đã là năm 1268. Trong 9 năm ấy, vốn là cơ hội trời cho để Nam Tống chỉnh đốn binh mã, củng cố võ bị, phục hồi nguyên khí quốc gia. Thế nhưng thời cơ quý báu ấy đã bị chôn vùi trong tay Giả Tự Đạo. Không chỉ vậy, khi quân Mông Cổ vây hãm Tương Dương suốt 5 năm trời, Giả Tự Đạo vẫn ngồi yên nhìn thế cuộc, khoanh tay chẳng cứu.
Dưới chân thành Ngạc Châu, Giả Tự Đạo từng sai người cầu hòa với Hốt Tất Liệt, hứa rằng sẽ lấy Trường Giang làm biên giới giữa hai nước, đồng thời mỗi năm nộp cho Mông Cổ một khoản tuế tệ gồm 20 vạn lượng bạc trắng và 20 vạn tấm lụa.
Nhưng khi ấy, vì A Lý Bất Ca tự lập làm Đại hãn, Hốt Tất Liệt phải vội rút quân về phương bắc, nên hai bên chưa kịp ký kết hòa nghị chính thức. Sau khi Hốt Tất Liệt lên ngôi, ông phái Hác Kinh làm sứ giả, sang thông báo với Nam Tống rằng mình đã chính thức lên ngôi, đồng thời bàn bạc việc thực thi cụ thể các điều khoản hòa nghị trước đó.
Thế nhưng Giả Tự Đạo vốn đã lừa Tống Lý Tông, ông ta nói rằng mình đã đánh bại quân Mông Cổ. Nếu để Hác Kinh gặp được hoàng đế, lời dối trá ấy tất sẽ bị vạch trần. Vì vậy, Giả Tự Đạo liền cho bắt giữ Hác Kinh, không cho sứ thần vào triều.
Phía Mông Cổ thấy Hác Kinh bặt vô âm tín, tựa như người đã mất tích, bèn phái sứ giả sang dò hỏi, còn nhờ quan viên Nam Tống thay mặt tìm kiếm. Nhưng Giả Tự Đạo vẫn tìm đủ mọi cách để che giấu, ngăn trở đến cùng. Cuối cùng, đến khi Hốt Tất Liệt biết được rằng Hác Kinh đã bị Giả Tự Đạo giam giữ, ông vô cùng phẫn nộ, bèn hạ chiếu thảo phạt Nam Tống.
Khi ấy là năm 1261, Hốt Tất Liệt đang giao chiến ác liệt với A Lý Bất Ca, cuộc chiến giành ngôi Đại hãn vẫn còn chưa phân thắng bại, nên ông chưa thể lập tức phát động cuộc tiến công xuống Nam Tống.
Sang năm sau, lại xảy ra sự kiện Lý Đàn phản bội Mông Cổ, quay sang đầu hàng Nam Tống. Cha của Lý Đàn là Lý Toàn, vốn là người nước Kim. Khi Mông Cổ phát binh đánh Kim, Lý Toàn đã nhân cơ hội để nổi dây, cát cứ một phương, tự lập thế lực riêng; về sau lại quy hàng Nam Tống. Nhưng chẳng bao lâu, ông ta tiếp tục phản lại Nam Tống, quay sang đầu hàng Mông Cổ.
Sau khi Lý Toàn chết, con trai Lý Đàn chiếm giữ vùng Sơn Đông và Hoài Bắc, trên danh nghĩa thì vẫn nghe lệnh Mông Cổ. Thế nhưng đến năm 1262, Lý Đàn đột nhiên giết chết sứ giả Mông Cổ, tuyên bố muốn quy thuận Nam Tống, nói rằng làm như vậy là để chuộc tội cho phụ thân.
Tống Lý Tông nghe tin thì vô cùng vui mừng, ông lập tức phong Lý Đàn làm quận vương và tiết độ sứ. Khi đại quân Mông Cổ kéo đến dẹp loạn, Lý Đàn vội vàng cầu cứu Nam Tống, nhưng quân đội Nam Tống lại không dám tiến vào địa giới Sơn Đông. Đến tháng 8 cùng năm, Lý Đàn bị giết.
Từ đó, phía Mông Cổ cho rằng cuộc phản loạn của Lý Đàn chính là do Nam Tống đứng sau xúi giục. Mâu thuẫn giữa hai bên vì thế càng thêm sâu nặng, ngọn lửa chiến tranh âm thầm bùng lên dữ dội.
Ngoài ra, còn có một danh tướng Nam Tống, cũng đầu hàng Mông Cổ. Lưu Chỉnh là một viên tướng kiêu dũng thiện chiến, lại rất có tầm nhìn chiến lược. Thuở trước, ông từng dẫn theo 12 người, nhân đêm tối tập kích và chiếm được thành Tín Dương của nước Kim. Mưu lược và khí phách ấy khiến người đời vô cùng kinh động. Về sau, Lưu Chỉnh được giao phụ trách quân sự tại Lô Châu, Tứ Xuyên.
Thân tín của Giả Tự Đạo là Lữ Văn Đức cũng là người lập nhiều quân công, nhưng lại ganh ghét với Lưu Chỉnh. Cứ hễ Lưu Chỉnh hiến kế bày mưu thì đều bị phủ quyết; hễ lập được công lao thì bị giấu nhẹm, không tấu báo lên triều đình. Về sau, Lữ Văn Đức lại phong chức cho Du Hưng, người này vốn có mâu thuẫn với Lưu Chỉnh, Du Hưng được phong làm Tứ Xuyên chế trí sứ, liên tục chèn ép và đả kích Lưu Chỉnh.
Lưu Chỉnh biết rõ Lữ Văn Đức và Du Hưng có ý hãm hại mình, ông nhiều lần dâng lời kêu oan lên triều đình nhưng đều không có cửa giải bày. Lại thấy hai vị tướng khác, địa vị còn cao hơn mình, đã bị Giả Tự Đạo bức đến chỗ phải chết, trong lòng Lưu Chỉnh càng thêm bất an. Cuối cùng, Lưu Chỉnh đem theo 15 quận thuộc Lô Châu, cùng 30 vạn hộ dân, quay về phương bắc đầu hàng Mông Cổ.
Việc Lưu Chỉnh đầu hàng đã khiến Nam Tống mất đi một viên dũng tướng. Điều quan trọng hơn là, sau khi quy thuận Mông Cổ, Lưu Chỉnh đã hiến cho họ hai kế sách, mà hai kế sách ấy gần như trực tiếp mở đường cho sự diệt vong của Nam Tống.
Vào năm trước khi Mông Cổ chuẩn bị một lần nữa phát binh đánh Tống, tức năm 1267, Lưu Chỉnh tâu với triều Nguyên rằng: nếu muốn diệt Nam Tống, trước hết tất phải đánh lấy Tương Dương. Địa vị chiến lược của Tương Dương vô cùng trọng yếu. Một khi nơi này thất thủ, tuyến liên lạc giữa Tứ Xuyên và triều đình Nam Tống sẽ bị cắt đứt; đồng thời, cánh cửa tiến xuống Hồ Nam, Giang Tây cũng sẽ bị mở toang.
Kế sách thứ hai mà Lưu Chỉnh trình bày cho triều Nguyên chính là phải huấn luyện thủy quân. Từ năm Chí Nguyên thứ 7, tức năm 1270, Lưu Chỉnh bắt đầu cho đóng 5nghìn chiến thuyền, thao luyện 7 vạn thủy quân. Hốt Tất Liệt tiếp nhận kiến nghị của Lưu Chỉnh. Năm 1268, ông bổ nhiệm A Thuật và Lưu Chỉnh thống lĩnh binh mã tiến đánh Tương Dương. A Thuật xuất thân trong dòng dõi võ tướng: cha là Ngột Lương Hợp Thai, ông nội là danh tướng Tốc Bất Đài, mấy đời đều theo nghiệp binh đao.
Thế nhưng thành Tương Dương rất kiên cố, người trấn thủ lại là danh tướng Nam Tống – Lữ Văn Hoán, em trai của Lữ Văn Đức. Từ năm 1268 đến năm 1270, quân Nguyên vây đánh Tương Dương và Phàn Thành suốt thời gian dài mà vẫn không hạ được. Hốt Tất Liệt lại phái thừa tướng Sử Thiên Trạch dẫn quân chi viện cho A Thuật. Sử Thiên Trạch cho đắp thêm thành lũy ở vòng ngoài Tương Dương, cắt đứt hoàn toàn mọi liên lạc giữa Tương Dương với thế giới bên ngoài.
Từ đó, quân dân trong thành Tương Dương chỉ còn biết dựa vào lương thảo tích trữ mà liều chết cố thủ. Thế nhưng đúng vào lúc ấy, Giả Tự Đạo vẫn còn ở Cát Lĩnh bên Tây Hồ, cùng các ái thiếp vui thú chơi đấu dế, lại còn lừa dối Tống Độ Tông rằng quân Mông Cổ đã sớm rút lui từ lâu.
Hai bên giằng co mãi đến tháng giêng năm 1273, Phàn Thành thất thủ, các tướng giữ thành đều tự vẫn. Còn ở Tương Dương, mỗi lần Lữ Văn Hoán đi tuần trên mặt thành, ông đều nhìn về phương nam mà rơi nước mắt, ông cùng quân dân đã liều mạng phòng thủ trong thời gian rất lâu, mong mỏi viện binh của triều đình. Thế rồi sau 5 năm phòng thủ, hy vọng biến thành thất vọng, rồi biến thành tuyệt vọng, Lữ Văn Hoán rất giận vì viện binh mãi chẳng đến. Cuối cùng, ông đầu hàng Mông Cổ, lại còn tự xin làm tướng tiên phong, đánh Nam Tống.
Năm 1274, Hốt Tất Liệt bổ nhiệm Bá Nhan làm Trung thư tả thừa tướng, thống lĩnh 20 vạn đại quân nam chinh, chuẩn bị trong một trận mà quét sạch Nam Tống. Cũng chính trong năm ấy, tức năm 1274, Tống Độ Tông băng hà, người con trai mới 4 tuổi là Triệu Hiển lên ngôi, sử gọi là Tống Cung Đế. Trên danh nghĩa, Thái hậu lâm triều nghe chính sự, nhưng thực quyền vẫn nằm trong tay Giả Tự Đạo.
Đến khi Ngạc Châu thất thủ, Giả Tự Đạo buộc phải ra mặt, tự mình thống lĩnh quân đội chống giữ. Thế nhưng quân Tống vừa đánh đã tan, thua chạy về Dương Châu.
Tháng 11 năm 1275, Bá Nhan đánh hạ Thường Châu. Ở phía tây, lại có một cánh quân khác từ Kiến Khang tiến xuống phía nam, lúc này cũng đã chiếm được Quảng Đức. Hai đạo quân đều đã áp sát Hàng Châu, kinh đô cuối cùng của Nam Tống.
Khi ấy, tể tướng Nam Tống là Trần Nghi Trung, trước cảnh thành trì liên tiếp bị chiếm, quan quân hoặc tan vỡ hoặc đầu hàng, tể tướng cũng đành bó tay, không có kế sách. Ấy vậy mà trong triều đình, họ còn đang mải bàn luận những việc như khoa cử, tế lễ Minh Đường, toàn là những chuyện chẳng liên quan gì đến đại cục sinh tử trước mắt.
Trần Nghi Trung bèn phái một người tên là Liễu Nhạc, mang thư cầu hòa với Bá Nhan. Liễu Nhạc nói với Bá Nhan rằng: “Nay hoàng đế của chúng tôi vẫn chỉ là một đứa trẻ, lại đang trong thời gian chịu tang. Theo lễ mà nói, các ngài không nên đem binh tiến đánh. Huống hồ, mọi chuyện trước đây đều là lỗi của Giả Tự Đạo.”
Bá Nhan đáp: “Các ngươi không giữ chữ tín, giết hại sứ giả, cho nên chúng ta mới hưng binh thảo phạt. Năm xưa, nước Ngô Việt và Nam Đường Hậu chủ đều từng quy hàng triều Tống các ngươi. Đó chính là con đường mà hôm nay các ngươi nên noi theo. Giang sơn này, các ngươi từng đoạt được từ tay một đứa trẻ; nay lại mất thiên hạ trong tay một đứa trẻ. Khi xưa Triệu Khuông Dận làm binh biến Trần Kiều, lấy ngôi hoàng đế từ tay Sài Tông Huấn mới 7 tuổi. Nay cơ nghiệp Đại Tống cũng kết thúc dưới thời một ấu quân. Thiên đạo tuần hoàn vốn là như vậy, còn có gì để nói!?”
Năm 1276, Thái hoàng thái hậu lại phái người đến cầu hòa với triều Nguyên, nguyện dâng biểu xưng thần, mỗi năm nộp tuế cống gồm 25 vạn lượng bạc và 25 vạn tấm lụa, chỉ cầu được giữ lại phần lãnh thổ còn sót lại. Nhưng Bá Nhan vẫn không chấp thuận.
Trần Nghi Trung thỉnh cầu Thái hoàng thái hậu dời đô. Nhưng ngay trong lúc bà còn đang do dự, đại quân Mông Cổ đã kéo đến phía đông bắc Hàng Châu, chỉ chốc lát là có thể tiến vào thành. Trần Nghi Trung hoảng hốt bỏ chạy về Ôn Châu.
Thái hoàng thái hậu không còn cách nào khác, bèn dâng ra truyền quốc ngọc tỷ, dâng biểu xin hàng, hiến toàn bộ đất đai còn lại, chỉ cầu giữ lại huyết mạch cho con cháu họ Triệu. Bá Nhan đồng ý, nhưng yêu cầu các đại thần Nam Tống phải đến quân doanh để bàn bạc cụ thể.
Trong lúc nguy cấp, Thái hoàng thái hậu tạm thời bái Văn Thiên Tường làm Hữu thừa tướng, kiêm Xu mật sứ, sai ông đến doanh trại quân Nguyên để nghị hòa. Khi Văn Thiên Tường gặp Bá Nhan, lời lẽ khảng khái, khí tiết hiên ngang, vẫn giữ lấy tôn nghiêm cuối cùng của triều đình Nam Tống. Bá Nhan vừa thấy Văn Thiên Tường là người cứng cỏi, khó khuất phục, liền hạ lệnh bắt giữ.

