Tập 130: Cuộc tây chinh lần thứ 3 của Mông Cổ, hình thành cục diện Tứ đại Hãn quốc

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 20/06/2026

Năm 1259, khi Đại hãn Mông Kha dẫn quân công đánh thành Điếu Ngư, ông đột nhiên qua đời. Sự kiện này đã khiến kế hoạch tiêu diệt Nam Tống của Mông Cổ gặp phải một đòn giáng nặng nề, và còn làm gián đoạn toàn bộ bố cục của cuộc Tây chinh lần thứ ba của đại quân Mông Cổ.

Ở tập trước, chúng tôi đã nói đến việc Đại hãn Mông Kha tiêu diệt nước Đại Lý và phát động chiến tranh tiến công Nam Tống. Cùng lúc đó, Mông Kha còn mở chiến dịch chinh phạt các vùng tương ứng với Iran, Iraq, Syria và Ả Rập Xê Út ngày nay. Đây chính là cuộc Tây chinh lần thứ 3 của Mông Cổ. Cuộc viễn chinh này cuối cùng đã dẫn đến sự diệt vong của vương triều Abbas, tức là thế lực mà người Hán xưa gọi là “Hắc Y Đại Thực”.

Trong cuộc Tây chinh lần thứ nhất, Thành Cát Tư Hãn đã chiếm được Hoa Lạt Tử Mô. Về sau, Đại hãn Mông Kha đem vùng đất này phong cho em trai mình là Húc Liệt Ngột. Vào thời cực thịnh, lãnh thổ Hoa Lạt Tử Mô phía tây vươn tới vịnh Ba Tư, phía đông kéo dài đến Kyrgyzstan ngày nay.

Nhưng ở phía nam biển Caspi lại có một tộc người gọi là Mộc Lạt Di, đã gây họa rất nặng. Nếu dịch sang Hán ngữ thì “Mộc Lạt Di có nghĩa là “giả đạo học” hoặc “người lạc lối”. Họ là một nhánh của phái Ismaili, thuộc Hồi giáo Shia, cũng được gọi là phái Assassin.

Hành tung của giáo phái này vô cùng quỷ dị. Nếu nhìn bằng con mắt ngày nay, có thể nói họ chẳng khác nào một tà giáo. Theo truyền thuyết, thủ lĩnh Ba Tư đầu tiên mang gốc Đột Quyết của họ tên là Hassan Sabbah. Trong tiểu thuyết, ông ta được gọi là Hoắc Sơn, cũng được xưng là “Sơn Trung Lão Nhân”, tức là Ông già trong núi.

Phái Assassin dựa vào núi cao hiểm trở để xây thành, họ nuôi dưỡng rất nhiều bé trai, từ lúc 12 tuổi cho đến 20 tuổi. Trong Tân Nguyên sử có ghi lại một số chi tiết khá cụ thể.

Khi những nam nhân này đến tuổi 20, giáo phái sẽ cho họ uống rượu, chuốc đến say mềm, rồi sai người khiêng họ vào một khu vườn lớn. Nơi ấy có cung điện rực rỡ vàng son, đồ ăn thức uống vô cùng thịnh soạn, lại có rất nhiều mỹ nữ. Khi những người này mở mắt tỉnh dậy, họ phát hiện mình đang ở trong một chốn ôn nhu phú quý mà trước nay chưa từng thấy, bèn ở đó tận tình hưởng lạc. 

Vài ngày sau, giáo phái lại chuốc rượu cho họ say, rồi khiêng họ ra ngoài. Đến khi tỉnh rượu lần nữa, họ nhận ra mình đã trở về nơi ở cũ. Lúc này, các trưởng lão trong giáo phái liền bắt đầu tẩy não họ, nói rằng nơi họ vừa đến mấy ngày trước chính là thiên đường. Nếu muốn quay lại đó, họ bắt buộc phải làm việc cho giáo phái, với các nhiệm vụ ám sát. Nếu ám sát thành công, họ còn có thể được trở lại thiên đường thêm vài ngày. Còn nếu không thành công mà chết đi, vậy lại càng tốt, bởi như thế họ sẽ được ở trong thiên đường mãi mãi.

Vì vậy, những người này có thể nói là đã bị lừa dối và tẩy não hoàn toàn. Khi chấp hành các nhiệm vụ khủng bố, họ giống như đang liều chết, thậm chí còn mong mình sớm được chết. Điều này rất giống với các hoạt động khủng bố của những phần tử Hồi giáo cực đoan ngày nay.

Đại hãn Mông Kha lệnh cho Húc Liệt Ngột thảo phạt Mộc Lạt Di, đồng thời căn dặn rằng nhất định phải chém tận giết tuyệt, không được để thế lực này còn lưu lại hậu họa. Húc Liệt Ngột phong Khiếp Đích Bất Hoa làm tướng tiên phong, phong người Hán là Quách Khản làm phó soái. Quách Khản chính là hậu duệ của Quách Tử Nghi. Ông điều động binh mã, thợ thủ công, công tượng và các lực lượng phụ trợ, chính thức phát động cuộc Tây chinh lần thứ ba.

Năm 1255, đại quân hội hợp với các cánh quân Tây Vực tại Samarkand. Mộc Lạt Di dựa vào núi cao để xây dựng thành lũy, pháo đài hiểm yếu, vì thế việc công phá là vô cùng gian nan. Sau những trận chiến khổ cực kéo dài, lại thêm trong nội bộ Mộc Lạt Di xảy ra chính biến, giáo chủ là Ngột Nãi Khắc Đinh cuối cùng phải đầu hàng.

Húc Liệt Ngột buộc Ngột Nãi Khắc Đinh ra lệnh cho các pháo đài và cứ điểm phải từ bỏ kháng cự. Sau đó, ông ra lệnh giết sạch toàn bộ người Mộc Lạt Di, bất kể họ từng chống cự hay chưa, cũng không phân biệt nam nữ già trẻ, mà chém tận giết tuyệt. Cuối cùng, ngay cả giáo chủ Ngột Nãi Khắc Đinh cũng bị xử tử. Từ đó, Mộc Lạt Di bị diệt tộc.

Sau khi chiếm lĩnh Ba Tư, Húc Liệt Ngột tiếp tục đem quân tiến về phía tây. Ông yêu cầu thủ lĩnh Caliph của vương triều Abbas phải đầu hàng. Nhưng thư hồi đáp của vị Caliph này lại vô cùng ngạo mạn. Vì thế, Húc Liệt Ngột liền phát động đại quân tiến công vùng Lưỡng Hà. Những nơi vó ngựa Mông Cổ đi qua đều bị tàn phá thảm khốc. Cuối cùng, đại quân Mông Cổ bao vây kinh đô Baghdad, dùng đại pháo oanh kích thành trì. Caliph không chống đỡ nổi, đành phải ra khỏi thành đầu hàng. Quân Mông Cổ tiến vào thành, liên tục tàn sát suốt 7 ngày liền, giết sạch 80 vạn người trong toàn thành.

Húc Liệt Ngột bắt Caliph phải nuốt vàng. Thứ này hễ nuốt vào bụng thì người ta sẽ phải chết. Nhưng Caliph cự tuyệt. Theo ghi chép trong Tân Nguyên sử, Húc Liệt Ngột cho người cuốn Caliph vào trong một tấm thảm, rồi sai ngựa giẫm chết. Khi ấy là mùa xuân năm 1258. Vương triều Abbas, cũng được gọi là Hắc Y Đại Thực, từ đó diệt vong.

Sau đó, Húc Liệt Ngột lại tiếp tục tiến quân về phía tây, phát binh công đánh bán đảo Ả Rập. Thời bấy giờ, người Trung Quốc gọi Ả Rập là “Thiên Phương”. Ngày nay, bộ truyện Nghìn lẻ một đêm còn được gọi là Thiên Phương dạ đàm, ý nghĩa chính là những câu chuyện đêm khuya truyền đến từ bán đảo Ả Rập.

Năm 1259, Húc Liệt Ngột đưa quân tiến vào Syria, công chiếm Damascus. Sau đó, ông lại tiến quân lên phía bắc, đánh bại liên quân các nước vùng Balkan, rồi chinh phục Cyprus, khi ấy được gọi là Phú Lãng quốc.

Cuộc Tây chinh lần này của Húc Liệt Ngột đã nhận được sự hoan nghênh từ Giáo đình La Mã. Chúng ta biết rằng, khu vực Trung Đông vốn từng là nơi Thiên Chúa giáo thịnh hành. Về sau, trong con mắt của Giáo đình, vùng đất ấy đã rơi vào tay những “dị giáo đồ”, tức là những người theo Hồi giáo. Năm xưa, các cuộc Thập tự chinh cũng chính là nhằm thu hồi mảnh đất này, nhưng cuối cùng đã không thành công. Không ngờ giờ đây, những việc mà quân Thập tự năm xưa muốn làm mà chưa làm được, Húc Liệt Ngột lại thay họ làm hết.

Húc Liệt Ngột muốn vượt biển để tiến công Ai Cập. Nhưng đúng vào lúc ấy, phía đông truyền đến tin tức rằng Đại hãn Mông Kha đã qua đời. Vì vậy, Húc Liệt Ngột ra lệnh cho Khiếp Đích Bất Hoa trấn giữ Syria, còn bản thân thì thống lĩnh đại quân quay về phía đông.

Sau cuộc Tây chinh lần thứ 3 của Mông Cổ, cương vực của Đại Mông Cổ quốc về cơ bản được xác lập. Khi ấy, trên đại lục Á-Âu, có đến tám phần mười lãnh thổ đều rơi vào tay người Mông Cổ. Cục diện Tứ đại Hãn quốc cũng từ đó hình thành.

Trong bốn Hãn quốc ấy, lớn nhất là Khâm Sát Hãn quốc cũng gọi là Kim Trướng Hãn quốc. Đây là vùng đất mà năm xưa Thành Cát Tư Hãn đã phong cho Truật Xích, bao gồm khu vực nước Nga, Ukraina ở phía bắc dãy Kavkaz, kéo dài mãi đến hạ du sông Danube.

Vùng đất cũ của Tây Liêu được phong cho Sát Hợp Đài, lập thành Sát Hợp Đài Hãn quốc. Vùng đất cũ của người Nãi Man được phong cho Oa Khoát Đài. Hãn quốc này tương đối nhỏ, bởi lúc bấy giờ Oa Khoát Đài vốn là Đại Hãn. Còn lại là Y Nhi Hãn quốc, chiếm cứ Ba Tư, vùng Tiểu Á (tức Anatolia ngày nay) và khu vực trung bắc bán đảo Ả Rập, vùng đất này được phong cho Húc Liệt Ngột. Trên thực tế, Tứ đại Hãn quốc đều có tính độc lập tương đối rất cao; nhưng trên danh nghĩa là quy thuộc Đại Mông Cổ quốc mà thôi.

Đại hãn Mông Kha, ngoài những chiến công hiển hách như Tây chinh và tiêu diệt nước Đại Lý, ông còn đưa ra một quyết định khá trọng yếu: đó là lệnh cho Hốt Tất Liệt mở phủ tại Kim Liên Xuyên, thực hành chế độ “lưỡng nguyên chính trị” — tức là ở bản bộ Mông Cổ thì cai trị theo phương pháp của người Mông Cổ, còn tại đất Hán thì thuận theo tập quán của người Hán mà cai trị.

Tại trị sở của mình, Hốt Tất Liệt đã chiêu nạp rất nhiều nhân sĩ người Hán, đồng thời cũng dốc lòng học tập văn hóa Trung Nguyên và phương pháp trị quốc của người Hán. Trong quá trình Hốt Tất Liệt dựng lập cơ nghiệp, có hai người đã phát huy tác dụng rất lớn. Người thứ nhất chính là Diêu Xu. Khi Hốt Tất Liệt lần đầu gặp Diêu Xu, thì Diêu Xu đã 50 tuổi, ông đã dâng lên một bản tấu dài mấy nghìn chữ, trình bày đạo lý trị quốc bình thiên hạ của Nho gia.

Hốt Tất Liệt vô cùng kinh ngạc trước kiến giải của ông. Từ đó về sau, hễ gặp việc đại sự, trước khi có hành động trọng đại, Hốt Tất Liệt thường sẽ hỏi qua ý kiến của Diêu Xu.

Khi Đại hãn Mông Kha giao cho Hốt Tất Liệt cai trị đất Hán, Hốt Tất Liệt cho rằng đây chính là thời cơ để thi triển chí lớn, bèn cho mở đại yến, cùng quần thần ăn mừng. Trong bữa tiệc ấy, mọi người đều hân hoan phấn khởi, lần lượt dâng lời chúc mừng. Thế nhưng Diêu Xu chỉ ngồi lặng lẽ giữa bữa tiệc, không nói một lời.

Đợi đến khi tiệc tan, mọi người đều đã lui ra, Hốt Tất Liệt sai người giữ Diêu Xu lại, ông hỏi: “Trong tiệc, mọi người đều dâng lời chúc mừng, chỉ có ngươi là ngồi im không nói. Rốt cuộc là vì cớ gì?”

Diêu Xu cũng không hề che giấu, ông thẳng thắn đáp: “Ngày nay, nói về đất đai rộng lớn, dân cư đông đúc, tài phú dồi dào, có nơi nào vượt qua Hán địa chăng? Nay đại quyền quân chính đều đã quy về tay chúng ta, vậy Mông Kha Đại Hãn còn quản việc gì nữa? Sau này, những người bên cạnh Đại hãn nếu nhân cơ hội mà gièm pha, tất sẽ khiến Đại Hãn sinh lòng nghi kỵ, rồi hối hận vì đã giao quyền quá lớn cho ngài. Khi ấy, quyền lực của ngài tất sẽ bị đoạt lại. Chi bằng ngài chỉ tiếp nhận binh quyền, còn quyền hành chính thì trao trả lại, thỉnh cầu Đại Hãn phái cơ cấu tương ứng đến quản lý. Làm như vậy thì thế mới thuận, lý mới yên.”

Hốt Tất Liệt nghe xong thì như bừng tỉnh ngộ, bèn nói: “Điều này quả là ta chưa từng nghĩ tới.” Thế là ông làm theo kiến nghị của Diêu Xu, chỉ tiếp nhận binh quyền, và đem quyền hành chính giao trả lại cho Đại hãn Mông Kha.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Lưỡng Tống phồn hoa.

Gần đây hai chữ “tu luyện” được sử dụng nhiều trong cuộc sống hằng ngày, dường như chỉ trải qua một chút nỗ lực và mài dũa, liền có thể đạt được mục tiêu nào đó trong cuộc sống. Thực ra, hai chữ “tu luyện” này là câu trả lời cho ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>