Tập 13: Bắc Ngụy Thái Vũ Đế tiến hành ‘diệt phật’ – Pháp nạn đầu tiên tại Trung Hoa

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 12/12/2025

Vào buổi đầu thời Đông Hán, khi Phật giáo được truyền vào Trung Quốc, lúc đó chưa gây nên chấn động lớn. Cho đến cuối thời Đông Hán, rất nhiều người vẫn xem Phật giáo chỉ như một dạng phương thuật của Đạo gia. Nhưng đến thời Ngũ Hồ Thập Lục Quốc, nhiều cao tăng từ phương Tây đã tiến đến Trung Nguyên, khiến Phật giáo được truyền bá rộng rãi và nhận được sự ủng hộ của nhiều vị hoàng đế.

Thời ấy, tốc độ phát triển của Phật giáo đã khiến người ta phải kinh ngạc, nhưng con đường truyền pháp cũng không hề dễ dàng. Trong thời Nam Bắc triều, đã hai lần xảy ra những cuộc ‘diệt phật’ quy mô lớn.

Trong lịch sử Phật giáo có bốn lần pháp nạn, được gọi chung là “Tam Vũ Nhất Tông diệt phật”. “Tam Vũ” là chỉ ba vị hoàng đế: Bắc Ngụy Thái Vũ Đế, Bắc Chu Vũ Đế và Đường Vũ Tông. “Nhất Tông” chính là Hậu Chu Thế Tông.

Sở dĩ gọi là “Tam Vũ” bởi vì trong miếu hiệu hoặc thụy hiệu của ba vị hoàng đế đầu đều có chữ “Vũ”. Mà những vị hoàng đế có chữ “vũ” trong thụy hiệu, đều là những người giỏi dùng binh, có tài năng chiến trận.

Còn từ “diệt phật” có nghĩa là cấm Phật giáo trên toàn quốc, thường đi kèm các hành động như phá hủy chùa chiền, thiêu đốt kinh điển, bắt ép tăng ni hoàn tục, thậm chí là giết hại tăng chúng.

Nếu dựa vào tiêu chuẩn này mà xét, thì Phật giáo thực ra đã có năm lần pháp nạn. Bởi vì sau khi Đảng Cộng sản Trung Quốc giành chính quyền, cuộc Đại Cách Mạng Văn Hóa đã là một cuộc ‘diệt phật’ cực lớn. Dù là xét về quy mô, thời gian hay mức độ tàn phá, Trung Cộng đều đã vượt xa “Tam Vũ Nhất Tông”. Ba lần pháp nạn trước kia kéo dài lâu nhất cũng chỉ khoảng sáu năm, còn Đại Cách Mạng Văn Hóa của Trung Cộng đã kéo dài mười năm. Từ đó, rất nhiều người dân không còn tín ngưỡng vào Thần, Phật, họ chuyển sang tín ngưỡng và ca tụng Mao Trạch Đông. Cách làm của Trung Cộng còn được gọi là “vận động tạo thần”.

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ nói về lần pháp nạn thứ nhất. Người sáng lập nhà Bắc Ngụy là Đạo Vũ Đế Thác Bạt Khuê. Sau đó ông truyền ngôi cho con thứ là Thác Bạt Tự, rồi đến cháu là Thác Bạt Đào. Chính Thác Bạt Đào là người thống nhất toàn bộ miền Bắc Trung Quốc, ông là người rất giỏi trong việc dùng binh.

Bản thân Thác Bạt Khuê vô cùng sùng kính Phật giáo. Con cháu ông lúc đầu cũng duy trì truyền thống đó. Vì vậy thời Bắc Ngụy Thái Vũ Đế từng có một giai đoạn rất kính trọng tăng nhân.

Trong bộ Nhị Thập Tứ Sử có quyển Ngụy Thư. Bộ Ngụy Thư này không phải lịch sử của Tào Ngụy dưới thời Tam Quốc. Ngụy Thư là chính sử ghi lại lịch sử của Bắc Ngụy, Tây Ngụy và Đông Ngụy, nằm trong hệ thống nhị thập tứ sử.

Quyển 114 của Ngụy Thư, mang tên “Thích Lão truyện”, có ghi chép các nhân vật Phật gia và Đạo gia. Trong đó có một đoạn mô tả về Thác Bạt Đào như sau:

“Lúc mới đăng cơ, Thác Bạt Đào cũng giống như cha và ông của mình, thường mời các cao tăng đến đàm luận Phật pháp. Đến ngày mồng tám tháng tư (ngày Phật đản của đức Thích Ca Mâu Ni), Thác Bạt Đào cho rước tượng Phật ra đại lộ để làm lễ. Thái Vũ Đế đích thân đứng trên lầu thành quan sát, cho người rải hoa để biểu thị sự tôn kính đối với Phật”.

Sau này, Thác Bạt Đào từng gặp một vị cao tăng tên là Trương Huệ Thỉ. Ông là đệ tử của đại sư Cưu Ma La Thập, từng nhiều lần triển hiện thần tích.

Khi Trương Huệ Thỉ sống gần Trường An. Đúng lúc ấy xảy ra cuộc Bắc phạt cuối cùng của Đông Tấn, do Lưu Dụ chỉ huy. Quân Đông Tấn đánh chiếm được Trường An. Nhưng rất nhanh sau đó, Bắc Hạ đem quân đến cứu viện. Bắc Hạ cũng là một nước của dân tộc người Hồ, quân vương là Hách Liên Bột Bột.

Hách Liên Bột Bột đánh bại Lưu Nghĩa Chân, là con trai của Lưu Dụ. Quân Bắc Hạ tiến vào Trường An, họ đốt phá, cướp bóc khắp nơi, rất nhiều tăng nhân bị giết hại.

Khi lính Bắc Hạ gặp Trương Huệ Thỉ, họ dùng đao kiếm chém tới, nhưng hoàn toàn không gây ra thương tích. Đám lính thấy kinh sợ trước điều kỳ lạ này, họ vội báo cho vua Hách Liên Bột Bột. Quân vương đích thân dùng kiếm đâm thử, nhưng cũng không đâm được.

Chính sử ghi rằng Trương Huệ Thỉ là người có thần thông. Có những lúc ông đi chân trần trên đất bùn mà không hề dính bẩn, chân vẫn sạch sẽ. Người ta thấy điều kỳ lạ này, đều tấm tắc khâm phục. Người đời còn gọi ông là “Bạch Cước Sư” – Tức là người thầy chân trắng. Sau khi Trương Huệ Thỉ viên tịch, mười năm sau đó người ta mở quan tài, thấy nhục thân của ông vẫn không hề hư hoại. 

Ban đầu, mối quan hệ giữa Trương Huệ Thỉ và Thác Bạt Đào là rất tốt đẹp.

Nhưng về sau Thác Bạt Đào đã chịu ảnh hưởng từ quan Tư đồ Thôi Hạo. Thôi Hạo là người rất có tài, tinh thông cả tinh tượng lẫn Nho thuật, ông ta tự ví mình như Trương Lương. Trong các chiến dịch thống nhất miền Bắc, Thôi Hạo đã đề xuất cho Thác Bạt Đào rất nhiều kế dụng binh. Nhờ đó, Thác Bạt Đào liên tục dành thắng lợi, ông đã đánh bại tất cả các quốc gia phương Bắc, thống nhất hoàn toàn miền Bắc Trung Quốc. Vì vậy, Thác Bạt Đào vô cùng tin tưởng Thôi Hạo.

Lúc này có một nhân vật kiệt xuất của Đạo giáo là Khấu Khiêm Chi. Ông tu hành tại núi Tung Sơn, sáng lập ra Tân Thiên Sư đạo. Tức là đã cải cách lại Thiên Sư đạo do Trương Đạo Lăng sáng lập đời trước, rồi xuống núi để truyền Đạo. Khấu Khiêm Chi có duyên gặp được Thôi Hạo. Thôi Hạo vốn là người tự cao, nhưng lại vô cùng khâm phục Khấu Khiêm Chi, thậm chí còn bái Khấu Khiêm Chi làm thầy. Từ đó, Thôi Hạo bắt đầu tin tưởng Đạo giáo, và ông cũng rất mực tôn trọng tư tưởng Nho gia.

Thôi Hạo cho rằng Phật là vị thần được người Hồ ở Tây Vực truyền vào Trung Quốc, nên đã thường xuyên nói xấu Phật giáo với Thác Bạt Đào. Mưa dầm thấm lâu, Thác Bạt Đào dần bị ảnh hưởng. Sau đó Thôi Hạo giới thiệu Khấu Khiêm Chi với Thác Bạt Đào, và Khấu Khiêm Chi cũng đã triển hiện một số thần tích trước mặt hoàng đế.

Từ đó, Thác Bạt Đào bắt đầu tin theo Đạo giáo, ông còn đổi niên hiệu thành Thái Bình Chân Quân — một niên hiệu mang đậm màu sắc Đạo gia.

Lúc ấy, có một người Hung Nô tên là Cái Ngô đã khởi binh nổi loạn ở Hạnh Thành  — tức là huyện Hoàng Lăng, Thiểm Tây ngày nay. Thái Vũ Đế Thác Bạt Đào đích thân dẫn quân từ Bình Thành tiến về phía tây, đánh vào Quan Trung để dẹp loạn.

Tháng hai năm 446, Thái Vũ Đế dẫn quân tiến vào Trường An. Khi đó, trong thành Trường An có rất nhiều tự viện. Một số nhà sư trồng lúa mạch trong chùa để nuôi ngựa. Thái Vũ Đế đến chùa xem ngựa, các hòa thượng đã mời những tùy tùng của hoàng đế đi uống rượu.

Khi các quan tướng bước vào phòng của tăng nhân, họ phát hiện có rất nhiều binh khí như cung tên, trường mâu, thuẫn… họ đã báo lại cho Thái Vũ Đế. Thái Vũ Đế biết chuyện thì giận dữ tột độ, ông nói rằng: “Tăng nhân không được phép tàng trữ binh khí, chắc chắn bọn chúng là đồng mưu với quân phản loạn!”

Thế là hoàng đế ra lệnh khám xét toàn bộ chùa chiền, và phát hiện trong đó rất nhiều của cải, vàng bạc châu báu, cùng với cả mỹ nhân mà giới phú hào địa phương đã gửi gắm để tránh thuế và chiến loạn.

Thôi Hạo nhân cơ hội đó khuyên Thái Vũ Đế tiêu diệt tăng nhân trong thiên hạ. Bắc Ngụy Thái Vũ Đế ban chiếu lệnh đại diệt Phật giáo. Chiếu chỉ ghi rằng: “Xử tử toàn bộ tăng nhân ở Trường An, tiêu hủy toàn bộ tượng Phật. Người dân không được tự ý nuôi dưỡng tăng nhân. Ai dám che giấu hòa thượng, một khi bị phát hiện — hòa thượng bị xử tử, còn kẻ che giấu sẽ bị tru di cả tộc.”

Sau đó Thái Vũ Đế ban chiếu cho Thái tử Thác Bạt Hoảng, ra lệnh cho Thái tử thi hành chính sách ‘diệt phật’ trên toàn quốc, giết hết tăng nhân.

Chiếu thư viết: “Phàm là tượng Phật cùng kinh sách của người Hồ, thì tất cả đều phải đập phá, thiêu hủy. Còn với sa môn, bất kể già trẻ, đều phải đem chôn sống.”

Nhưng Thác Bạt Hoảng vẫn sùng kính Phật, lại có mối quan hệ với tăng sĩ rất tốt, nên ông đã cố tình kéo dài thời gian công bố chiếu lệnh, thậm chí còn để lộ tin ra ngoài, để cho các tăng nhân có thời gian bỏ trốn. Khi chạy trốn, nhiều hòa thượng đã mang theo nhiều tượng Phật và kinh điển để giấu đi.

Tuy nhiên, người xưa có câu: “Chạy được hòa thượng, nhưng không chạy được chùa.” Thế nên, rất nhiều ngôi chùa vẫn bị phá hủy.

Trong Ngụy thư có viết rằng: “Cung tháp bằng gỗ đất, nơi nào có giáo hóa truyền đến thì không nơi nào không bị phá sạch.”

Lần ‘diệt phật’ này lan khắp cả nước, đây là một cuộc pháp nạn lớn, mà người xúi giục chính là Thôi Hạo.

Khi Thác Bạt Đào tiến hành ‘diệt phật’. Đạo giáo Thiên sư Khấu Khiêm Chi đã hết mực khuyên ngăn. Khấu Khiêm Chi cùng Thôi Hạo đi theo hoàng đế trong cuộc Tây chinh, Khấu Khiêm Chi đã ra sức tranh luận với Thôi Hạo, khuyên rằng không nên diệt Phật, nhưng Thôi Hạo nhất quyết không nghe.

Cuối cùng, Khấu Khiêm Chi đưa ra một lời dự ngôn: “Sau này ngươi sẽ gặp họa diệt môn.”

Sau đó, Thôi Hạo được lệnh trông coi việc biên soạn quốc sử của Bắc Ngụy. Ông ta kiêu ngạo, tự cho mình là người tài giỏi, nên sau khi hoàn thành, liền đem bản sử ấy dán công khai giữa phố cho dân cả thành xem. Trong sách, Thôi Hạo không chỉ ghi chép những việc tốt mà triều Bắc Ngụy đã làm, mà còn chép cả những tội lỗi, sai lầm, cùng các chuyện không mấy vẻ vang của triều đình, kể cả những bí mật trong cung và chuyện dơ dáng trước khi nhà Bắc Ngụy thống nhất thiên hạ.

Trong truyền thống, khi các sử quan viết sử, thì ngay cả Hoàng đế cũng không được phép xem. Thế mà lần này Thôi Hạo lại đem sách ra cho cả thành đều biết. Bắc Ngụy Thái Vũ Đế Thác Bạt Đào biết chuyện thì vô cùng tức giận. Bốn năm sau cuộc “diệt phật”, tức năm 450 sau Công Nguyên, Thôi Hạo bị xử tử. Khi đó ông đã 70 tuổi, và theo chính sử ghi chép, Thôi Hạo bị hành hình bằng đủ “ngũ hình” — tiếng kêu thảm thiết vang khắp cả khu chợ. Người đời cho rằng đó chính là quả báo cho việc ông từng chủ trương “diệt phật”.

Về phần Thác Bạt Đào, lúc này ông cũng có phần hối hận vì đã diệt phật, nhưng vẫn không thay đổi chính sách. 

Đến tháng hai năm 452, Thác Bạt Đào bị Tông Ái đâm chết. Mà Tông Ái chính là viên hoạn quan mà hoàng đế rất tin tưởng. Sau đó, Tông Ái lại giết hoàng tử là Đông Bình vương Thác Bạt Hàn, rồi lập Nam An vương Thác Bạt Dư lên ngôi (cả hai đều là con của Thác Bạt Đào).

Tông Ái tự xưng Đại tư mã, Đại tướng quân, Thái sư, quyền thế to lớn, không ai dám chống lại. Nhưng vì quá chuyên quyền, Thác Bạt Dư đã tìm cách hạn chế quyền lực của hắn.

Tháng mười cùng năm, Tông Ái lại ra tay sát hại Thác Bạt Dư.

Một hoạn quan mà trong một năm giết hai hoàng đế—trong lịch sử chỉ có Tông Ái là người duy nhất dám làm điều đó.

Lúc này, viên tướng cấm vệ quân Lưu Ni đã phối hợp với các quan để phát động chính biến, tiêu diệt Tông Ái. Rồi họ lập cháu nội của Thác Bạt Đào là Thác Bạt Tuấn lên ngôi, tức là Văn Thành Đế.

Ngay trong năm đầu tiên đăng cơ, Văn Thành Đế hạ chiếu phục hưng Phật giáo. Sang năm sau, ông ra lệnh khai tạc Vân Cương Thạch Quật  — một trong bốn đại Phật giáo thạch quật tại Trung Quốc, cũng là thạch quật thứ ba được khai mở. Có thể xem đây như là một cách để chuộc lại phần nào lỗi lầm của tổ phụ.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Tùy Đường thịnh thế

Gần đây hai chữ “tu luyện” được sử dụng nhiều trong cuộc sống hằng ngày, dường như chỉ trải qua một chút nỗ lực và mài dũa, liền có thể đạt được mục tiêu nào đó trong cuộc sống. Thực ra, hai chữ “tu luyện” này là câu trả lời cho ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>