An Lộc Sơn là kẻ rất biết đoán ý người khác, và rất giỏi lấy lòng hoàng đế. Từ một võ tướng nơi biên ải, hắn liên tục được trọng dụng và được ban cho chức tước cao, vinh hoa phú quý hưởng không hết. Đường Huyền Tông hoàn toàn không nghi ngờ An Lộc Sơn, ông thấy hắn có dáng vẻ khù khờ, thật thà, rất biết gây cười. Vì thế hoàng đế liên tục thăng chức cho An Lộc Sơn và trao cho hắn quyền lực ngày càng lớn.
Năm Thiên Bảo thứ 9, tháng 9 năm 750, Đường Huyền Tông ban cho An Lộc Sơn tước vị Đông Bình quận vương – đây là lần đầu tiên trong triều Đường có một võ tướng được phong vương. Sang năm Thiên Bảo thứ 10, hoàng đế lại cho hắn kiêm nhiệm chức Hà Đông Tiết độ sứ.
Vậy thì, tham vọng tạo phản của An Lộc Sơn thật sự không có ai nhìn ra sao? Đương nhiên là có, người đầu tiên liên tục cảnh báo cho hoàng đế về dã tâm của An Lộc Sơn lại chính là Dương Quốc Trung, mà ông ta cũng là một gian thần hàng đầu.
Thế nhưng những lời cảnh báo của Dương Quốc Trung phần lớn là xuất phát từ sự đố kỵ, bởi tính cách người này thích cãi chày cãi cối, nhẹ dạ nông nổi, nóng nảy bộp chộp, hoàn toàn không có phong thái của một trọng thần triều đình.
Sau khi trở thành tể tướng, Dương Quốc Trung cho rằng thiên hạ này việc gì cũng phải do ông ta quyết định. Đối với các quan trong triều, Dương Quốc Trung liên tục hạch sách, sai khiến, muốn bãi chức ai thì bãi chức, muốn mắng ai thì mắng. Một mình Dương Quốc Trung kiêm nhiệm hơn bốn mươi chức vụ lớn nhỏ. Vậy thì đương nhiên hắn sẽ không thể chịu nổi việc An Lộc Sơn ngày càng được hoàng đế sủng tín.
Còn An Lộc Sơn thì lại rất coi thường Dương Quốc Trung. Mà thực ra, An Lộc Sơn chẳng coi ai trong triều đình ra gì cả, từ văn thần đến võ tướng hắn đều không đặt vào mắt. Nhưng chỉ trừ một người, người đó chính là Lý Lâm Phủ.
Mỗi lần trò chuyện với An Lộc Sơn, Lý Lâm Phủ đều có thể đoán trúng ngay suy nghĩ trong lòng hắn và thậm chí còn nói ra trước. Điều ấy khiến An Lộc Sơn vừa kinh ngạc vừa khâm phục và lại vừa sợ hãi. Mỗi lần gặp Lý Lâm Phủ thì dù có đang là mùa đông, mồ hôi lạnh của An Lộc Sơn cũng thấm ướt cả áo. Hắn gọi Lý Lâm Phủ là “Thập lang” để biểu thị sự cung kính.
An Lộc Sơn có một đội tình báo được hắn cài cắm ở kinh thành, gọi là Lưu Lạc Cốc. Sau khi An Lộc Sơn trở về Phạm Dương (nay là Bắc Kinh), mỗi khi người của Lưu Lạc Cốc từ Trường An mang tin đến, An Lộc Sơn luôn hỏi: “Thập lang hà ngôn?” nghĩa là: “Lý Lâm Phủ đã nói gì về ta?”
Nếu tin báo cho biết Lý Lâm Phủ có lời khen, An Lộc Sơn liền vui mừng khôn xiết. Còn nếu Lý Lâm Phủ nói: “Hãy bảo với An đại phu, phải tự biết xem xét và giữ mình cẩn thận!” Thì khi ấy An Lộc Sơn lập tức chống hai tay xuống giường mà than rằng: “Thôi xong rồi, ta chết mất thôi!”
Đến khi Lý Lâm Phủ qua đời và Dương Quốc Trung nắm trọn quyền lực, An Lộc Sơn cảm thấy trong triều đình chẳng còn ai khiến hắn phải e sợ nữa. Thế nhưng vào thời điểm ấy, An Lộc Sơn vẫn chưa có ý định tạo phản. Bởi vì hắn cho rằng Đường Huyền Tông đối xử với mình không tệ, hơn nữa hoàng đế tuổi tác đã cao, nên An Lộc Sơn muốn đợi đến khi Đường Huyền Tông băng hà rồi mới hành sự. Thế nhưng Dương Quốc Trung vì đố kỵ, nên vẫn thường xuyên dâng tấu rằng An Lộc Sơn có dã tâm tạo phản. Điều này đã liên tục dồn ép, khiêu khích và bức An Lộc Sơn vào đường cùng.
Một lần, Dương Quốc Trung nói với Đường Huyền Tông rằng: “Nếu bệ hạ không tin thần, xin hãy triệu An Lộc Sơn vào kinh. Hắn nhất định sẽ không dám đến.” Thế là vào đầu năm Thiên Bảo thứ 14, tức năm 755, Đường Huyền Tông hạ chiếu gọi An Lộc Sơn vào triều. Nhưng kết quả là An Lộc Sơn vẫn đến như thường. Nhờ vậy mà hoàng đế lại càng tin tưởng hắn hơn. Khi ấy, Thái tử Lý Hanh cũng cho rằng An Lộc Sơn có ý tạo phản, nhưng Đường Huyền Tông vẫn không chịu nghe.
An Lộc Sơn ở kinh thành hơn hai tháng rồi lên đường trở về Phạm Dương. Trước lúc rời đi, Đường Huyền Tông còn cởi tấm áo để ban tặng cho hắn. Điều này khiến An Lộc Sơn vô cùng mừng rỡ, nhưng hắn lại sợ Dương Quốc Trung dâng tấu xin giữ mình lại, nên đã lập tức thúc ngựa chạy thẳng ra khỏi cửa ải.
An Lộc Sơn xuống thuyền xuôi theo dòng Hoàng Hà, ra lệnh cho người chèo thuyền cứ mười lăm dặm phải thay người một lần, chèo thuyền ngày đêm không nghỉ, mỗi ngày đi được vài trăm dặm, đi qua các quận huyện cũng không hề lên bờ. Bởi vì An Lộc Sơn không xuống thuyền, các quan địa phương nhìn thấy đều nghi ngờ có điều bất thường, họ liền dâng tấu rằng hắn có thể sắp tạo phản.
Nhưng bất kể ai dâng tấu báo thế nào, Đường Huyền Tông đều cho bắt người ấy lại, rồi gửi đến Phạm Dương giao cho An Lộc Sơn xử trí. Từ đó về sau, không ai dám tâu trình chuyện này nữa.
Sau đó, An Lộc Sơn lại dâng tấu xin Đường Huyền Tông cho dùng người Hồ để thay thế các tướng lĩnh người Hán, và hoàng đế cũng đã đồng ý. Sau khi trở về Phạm Dương, mỗi lần triều đình phái sứ thần đến, An Lộc Sơn đều cáo bệnh mà không ra nghênh tiếp, chỉ khi chuẩn bị đầy đủ binh khí và quân lính rồi mới chịu đi gặp, hoàn toàn không còn giữ lễ tiết của bề tôi.
Dương Quốc Trung thì vẫn ngày đêm thu thập chứng cứ An Lộc Sơn mưu phản, ông ta sai Kinh Triệu Doãn tiến hành bao vây phủ đệ của An Lộc Sơn, bắt giữ môn khách, rồi giải đến ngục của Ngự sử đài để bí mật sát hại.
Khi ấy, con trai của An Lộc Sơn là An Khánh Tông sống tại kinh sư, đã bí mật báo tin này cho cha. An Lộc Sơn biết tin thì vô cùng lo sợ.
Tháng 6 năm 755, nhân việc con trai của Đường Huyền Tông sắp thành hôn, triều đình triệu An Lộc Sơn vào dự lễ. Thế nhưng hắn không dám đi, viện cớ là mắc bệnh. Sang tháng 7, An Lộc Sơn dâng biểu nói muốn tiến cống ba nghìn con ngựa, mỗi con cần hai người chăn dắt, cộng thêm ba mươi hai tù trưởng người Phiên hộ tống cùng vào kinh. Tức là muốn cho binh mã tiến vào kinh thành. Khi ấy, một số quan địa phương tâu rằng việc này rất khả nghi, e rằng An Lộc Sơn có âm mưu.
Đường Huyền Tông bèn hạ chiếu rằng việc tiến cống có thể hoãn đến mùa đông, triều đình sẽ tự phái người đến nhận, không cần binh sĩ dưới quyền An Lộc Sơn vào kinh. Có lẽ bản thân An Lộc Sơn cũng không thực sự định dâng ngựa, mà chỉ muốn nhân cơ hội này để thử xem hoàng đế còn tín nhiệm mình hay không. Nay hắn đã cảm thấy rõ ràng Đường Huyền Tông đã bắt đầu nghi ngờ.
Đường Huyền Tông cũng lo rằng An Lộc Sơn có thể nảy sinh lòng phản trắc, nên ông lại phái người đến gặp hắn, nhắn rằng: “Trẫm mới xây cho khanh một khu suối nước nóng nữa. Tháng 10 này, trẫm sẽ chờ khanh ở Hoa Thanh Trì.”
Thế nhưng khi sứ thần đến Phạm Dương để tuyên đọc thánh chỉ, thì An Lộc Sơn vẫn chỉ ngồi trên giường, không thèm quỳ xuống tiếp chỉ, mà chỉ nói: “Giúp ta vấn an hoàng thượng.” Rồi lại bảo: “Không cần ngựa nữa thì thôi, đến tháng mười ta sẽ vào kinh.” Sau đó An Lộc Sơn sai người đưa sứ giả tới khách điếm, rồi không gặp lại nữa. Vài ngày sau lại đuổi sứ giả về, cũng chẳng gửi thư hồi đáp.
Sứ giả trở về, vội vàng vào triều bẩm với Đường Huyền Tông rằng: “Thần suýt chút nữa đã không thể trở về”.
Tại sao An Lộc Sơn có thể hống hách như vậy? Bởi vì hắn đã chuẩn bị đầy đủ binh lực, sẵn sàng cho cuộc tạo phản.
Vào thời cực thịnh của chế độ phủ binh, Đại Đường có hơn sáu trăm Chiết Xung phủ, riêng vùng Quan Nội đã có 285 phủ, với khoảng 26 vạn phủ binh, chiếm gần một nửa binh lực cả nước. Nhưng đến niên hiệu Thiên Bảo, Đại Đường chuyển sang đặt mười trấn ở biên cương, do các tiết độ sứ thống lĩnh binh mã.
Trước thời Đường Cao Tông, các tiết độ sứ chỉ phụ trách quân sự, không can dự chính trị, còn việc hậu cần đều do triều đình cung cấp quân phí. Nhưng về sau, binh lực địa phương liên tục mở rộng, triều đình không còn đủ tài lực để chu cấp, nên mới cho phép tiết độ sứ có thể tự khai khẩn ruộng đất, tự trồng lương thực để nuôi quân.
Đến thời Đường Huyền Tông, tiết độ sứ đã nắm trọn quân quyền, chính quyền và có đủ tài lực. Lúc ấy, mười phiên trấn ngoài biên giới tổng cộng có 49 vạn quân. Còn các Chiết Xung phủ ở nội địa thì hầu như không còn binh lính, đội quân Quắc kỵ của triều đình cũng đã dần mục nát, suy yếu. Bên ngoài thì binh lực mạnh, còn bên trong thì binh lực vô cùng suy yếu.
Một mình An Lộc Sơn kiêm nhiệm chức quản lý cả ba trấn Phạm Dương, Bình Lư và Hà Đông. Phạm Dương nằm ở vùng Bắc Kinh – Hà Bắc ngày nay, trị sở tại Bắc Kinh, xưa gọi là Ngư Dương, chính là nơi năm xưa Trần Thắng, Ngô Quảng lên đường đi phục dịch. Còn Bình Lư là vùng Liêu Ninh ngày nay, trị sở ở Triều Dương. Hà Đông là khu vực Sơn Tây.
Dưới trướng An Lộc Sơn không chỉ có quân Hán, mà còn có đội quân hỗn hợp người Hồ và người Hán, có cả người Đồng La, người Hề, người Khiết Đan, người Thất Vi… tổng cộng khoảng 15 vạn quân. An Lộc Sơn đã âm thầm nuôi chí suốt gần mười năm, và lúc này thời cơ cuối cùng cũng đến. Đúng vào lúc một viên quan tấu sự từ kinh sư trở về, An Lộc Sơn liền nguỵ tạo thánh chỉ, triệu các tướng đến xem và nói rằng: “Hoàng thượng có mật chỉ, lệnh cho ta mang binh vào triều để trừng phạt Dương Quốc Trung”. Mọi người đều kinh ngạc nhìn nhau, không ai dám chất vấn.
Ngày 9 tháng 11 năm Thiên Bảo thứ 14, An Lộc Sơn chỉ huy 15 vạn quân, tự xưng là hai mươi vạn, khởi binh từ Phạm Dương và chính thức tạo phản. Các tướng đều dẫn quân đi theo ngay trong đêm. Một cơn đại loạn từ đó nổ ra.
Còn ở Trường An, Đường Huyền Tông vẫn còn đang đắm chìm trong vũ khúc thái bình, mong đợi sẽ cùng An Lộc Sơn đến Hoa Thanh Trì để tắm suối nước nóng. Bởi vậy trong bài “Trường hận ca” của Bạch Cư Dị mới có câu: “Ngư Dương bề cổ động địa lai, kinh phá Nghê Thường Vũ Y khúc”. Nghĩa là: Trống trận tại Ngư Dương dậy đất mà lên, làm tan vỡ khúc nhạc Nghê Thường.
An Lộc Sơn từ Hà Bắc tiến quân, thế như chẻ tre. Triều đình nhà Đường biết tin thì lập tức phái Phong Thường Thanh đi chiêu mộ binh sĩ, hai bên giao chiến dưới chân Hổ Lao quan.
