Công nguyên năm 756, vào tháng 6, Ca Thư Hàn bại trận ở Đồng Quan. Đường Huyền Tông không còn cách nào khác, đành vội vã rời khỏi Trường An để lánh nạn. Khi đi đến Mã Ngôi pha thì xảy ra binh biến: đại tướng Trần Huyền Lễ chỉ huy cấm quân, nổi dậy chém giết cả nhà Dương Quốc Trung, còn Dương Quý Phi thì bị ép phải tự vẫn. Lúc này, quân phản loạn đã dần áp sát Trường An, thế nước nguy cấp từng giờ. Đường Huyền Tông đành hạ quyết tâm chạy vào đất Thục để mong được yên ổn.
Sau khi Dương Quý Phi qua đời ở Mã Ngôi, lòng quân mới tạm yên. Nhưng tiếp theo nên chạy đi đâu để tránh quân phản loạn? Khi ấy trong triều kẻ bàn thế này, người bảo thế khác, mãi mà vẫn chưa có chủ kiến thống nhất. Bỗng có rất nhiều dân chúng quanh vùng đến chặn ngựa của Đường Huyền Tông, họ khẩn khoản nói rằng: “Trường An là nơi bệ hạ ngự trị, lăng tẩm ở đây và cũng là chỗ an táng về sau. Bệ hạ còn có thể đi đâu nữa?” Đường Huyền Tông bị dân chúng chặn đường khá lâu, tiến thoái đều khó. Cuối cùng, ông buộc phải hạ lệnh cho Thái tử ở lại, để trấn an lòng dân.
Dân chúng nói: “Nếu bệ hạ đã nhất quyết không ở lại, thì chúng thần nguyện mang con em cùng Thái tử điện hạ đi dẹp yên giặc loạn. Nếu cả Thái tử và Hoàng thượng đều rời đi, vậy ai sẽ làm chủ Trung Nguyên đây?”
Trước lời thuyết phục của dân chúng và những người bên cạnh, Thái tử Lý Hanh bèn quyết tâm ở lại để chống giặc, ông phái con trai là Lý Thục đi bẩm báo với Đường Huyền Tông. Thái tử Lý Hanh có trí dũng như vậy, quả thật rất xứng đáng. Hoàng đế lập tức quyết ý truyền ngôi cho Thái tử, nhưng Thái tử vẫn chưa nhận.
Đường Huyền Tông lại sai người chuyển lời rằng: “Con hãy cố gắng hết sức, đừng lo cho ta. Những người Hồ ở phía tây bắc, ta trước nay vẫn đối đãi tử tế, con sẽ nhận được sự trợ giúp của họ”.
Tình thế lúc ấy chính là như vậy. Quân đội trung ương và quân lính Trung Nguyên do hưởng thái bình đã lâu, nên đã mất sức chiến đấu, ngoại trừ phản quân của An Lộc Sơn ở đông bắc, thì lực lượng tác chiến mạnh nhất lúc này chỉ còn quân đoàn tại vùng Tây Bắc.
Vì thế, Lý Hanh dẫn quân tiến về hướng tây bắc, vượt qua sông Hoàng Hà. Đến tháng 7, dưới sự khuyến nghị của quần thần, Lý Hanh đăng cơ tại Linh Vũ, trở thành Đường Túc Tông, tôn Đường Huyền Tông làm Thái Thượng Hoàng, đổi niên hiệu thành Chí Đức.
An Lộc Sơn tự mình ở lại Lạc Dương, phái Tôn Hiếu Triết đem quân tiến vào Trường An. Đám loạn tặc này sau khi vào kinh thì chỉ nghĩ đến chuyện hưởng lạc, họ chỉ đi tìm nữ nhân xinh đẹp, rồi chiếm đoạt của báu, hoàn toàn không truy kích Đường Huyền Tông và Đường Túc Tông. Quân phản loạn lùng bắt bá quan, hoạn quan và cung nữ, từng tốp từng tốp bị áp giải về Lạc Dương.
An Lộc Sơn mở yến tiệc khoản đãi thủ hạ tại Ngưng Bích Trì, cho nhạc công diễn tấu những khúc nhạc huy hoàng. Đám Lê Viên đệ tử ngày trước của Đường Huyền Tông là những người được học nhạc trực tiếp từ ông, lúc này họ phải bước ra diễn tấu. Nhiều người không cầm được nước mắt; bọn phản quân rút dao ra, ánh mắt đầy đe dọa.
Nhạc công Lôi Hải Thanh bi phẫn tột độ, ông quăng nhạc cụ xuống đất rồi quay mặt về hướng tây mà khóc lớn. An Lộc Sơn nổi giận, truyền lệnh trói Lôi Hải Thanh lại trước Thí Mã điện rồi phanh thây.
Thi nhân Vương Duy cũng không muốn phục dịch cho An Lộc Sơn, bèn uống thật nhiều thuốc xổ để làm bản thân suy kiệt. Khi ấy ông đang bị giam tại chùa Bồ Đề ở Lạc Dương. Khi nghe tin về cái chết thảm liệt của Lôi Hải Thanh, Vương Duy đã viết một bài thơ rằng:
“Vạn hộ thương tâm sinh dã yên,
Bách quan hà nhật tái triều thiên.
Thu hòe lạc diệp không cung lý,
Ngưng Bích trì đầu tấu quản huyền.”
Trần Trọng San đã dịch thơ như sau:
“Muôn hộ đau thương khói tỏa mờ,
Bao giờ quan lại được chầu vua?
Hoa hoè rơi rụng cung thu vắng,
Ngưng Bích rền vang tiếng trúc tơ”.
Nghe tin Đồng Quan thất thủ, Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật cũng không dây dưa với Sử Tư Minh nữa, họ vội rút quân từ Hà Bắc vào Tỉnh Hình, rồi sau đó đến Linh Vũ để bảo vệ Đường Túc Tông.
Đường Túc Tông phong Quách Tử Nghi làm Binh bộ Thượng thư, Lý Quang Bật được phong làm Hộ bộ Thượng thư. Sau đó, Đường Túc Tông lại cử Bộc Cố Hoài Ân làm sứ giả sang cầu viện nước Hồi Hột, xin Hoài Nhân Khả Hãn dẫn quân hỗ trợ.
Ngoài hai vị dũng tướng Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật, Đường Túc Tông còn có một quân sư tài năng tên là Lý Bí. Lý Bí là bậc cao nhân, ông xử lý quân vụ và chính sự rất minh bạch và rành rọt, rất giống các bậc đại thần như Tô Uy, Phòng Huyền Linh hay Diêu Sùng. Bản thân Lý Bí lại có lối sống vô cùng thanh đạm, không màng danh lợi.
Đường Túc Tông không đối đãi với Lý Bí như là bề tôi, mà coi ông như khách, như một người bạn, hoàng đế kính trọng gọi Lý Bí là “tiên sinh”. Lý Bí vốn không muốn làm quan, nhưng mỗi khi Đường Túc Tông ra ngoài thì đều mời ông cùng ngồi chung một cỗ xe. Người đi đường nhìn thấy thì bàn tán rằng: “Mặc hoàng bào là hoàng đế, mặc áo trắng là sơn nhân”, ý nói Lý Bí là vị ẩn sĩ không có quan tước.
Về sau, Đường Túc Tông cảm thấy như vậy là không ổn, bèn cưỡng ép ban cho Lý Bí một chức quan.
Khi Đường Túc Tông còn làm Thái tử, Lý Lâm Phủ liên tục gây ra những vụ án lớn, mưu đồ khiến Đường Huyền Tông phế bỏ Thái tử. Vì vậy, Đường Túc Tông hận Lý Lâm Phủ đến thấu xương.
Một lần, Đường Túc Tông trò chuyện với Lý Bí và nói: “Ngày nào ta khôi phục được Trường An, nhất định sẽ đào mả Lý Lâm Phủ lên, đốt xương mà rải thành tro!”
Lý Bí liền đáp: “Bệ hạ vừa định thiên hạ, cớ sao còn hận kẻ đã chết? Xương khô trong mộ vốn không biết gì, chỉ khiến người đời nghĩ rằng bệ hạ lòng dạ quá hẹp hòi. Hiện nay những kẻ đang theo phản tặc đều là kẻ thù của bệ hạ, nếu nghe tin bệ hạ đối xử với Lý Lâm Phủ như vậy, họ tất sẽ kinh hãi và từ đó sẽ không dám cải tà quy chính mà hối cải nữa”.
Đường Túc Tông không vui, ông nói: “Tên giặc Lý Lâm Phủ ấy, năm xưa đã tìm mọi biện pháp để hãm hại ta, khiến ta sống không bằng chết. Ta có được ngày hôm nay hoàn toàn nhờ thiên mệnh! Hắn năm đó cũng từng hại khanh, chỉ là chưa hại chết khanh mà thôi, sao còn bênh vực hắn?”
Lý Bí đáp: “Thần nào chẳng biết! Nhưng việc Lý Lâm Phủ được trọng dụng, ấy là lỗi của Thái thượng hoàng. Thái thượng hoàng đã làm hoàng đế hơn bốn mươi năm, nay sống ở đất Ba Thục, khí hậu lại không tốt, tuổi tác đã cao. Nếu nghe bệ hạ xử trí Lý Lâm Phủ như thế, tất sẽ sinh lòng áy náy và thương tâm. Nhỡ vì cảm xúc kích động mà lâm bệnh, thậm chí băng hà thì sao? Bệ hạ đã tự mình lên ngôi thiên tử, lẽ nào lại không giữ cho phụ hoàng được bình an?”
Lý Bí còn chưa nói hết lời, Đường Túc Tông đã lệ tuôn đầy mặt, ông bước xuống bậc thềm, ngửa mặt lạy trời mà than rằng: “Trẫm vốn không nghĩ đến điều này. Ắt là Thượng Thiên sai tiên sinh nói ra những lời ấy!”
Lý Bí không những có nhân phẩm cao khiết, mà đối với việc bình định loạn An Sử, ông cũng có kế hoạch hết mực chu đáo, mưu lược trong màn trướng chẳng khác gì Trương Lương thuở trước. Lý Bí nói với Túc Tông rằng: “Thần thấy bọn phản tặc bây giờ cướp được tiền của và mỹ nhân liền đưa hết về Phạm Dương. Như thế thì chẳng phải là chí hướng hùng cứ tứ hải? Ngoài một số kẻ trung thành với An Lộc Sơn, còn lại chẳng qua đều bị cuốn theo mà thôi. Thần cho rằng không đến hai năm, phản loạn tất sẽ được bình định”.
Đường Túc Tông hỏi kế sách cụ thể như thế nào.
Lý Bí đáp: “Những tướng giỏi dưới trướng An Lộc Sơn, đếm tới đếm lui cũng chỉ có năm người. Nếu chúng ta lệnh cho Lý Quang Bật xuất quân từ Tỉnh Hình, để Quách Tử Nghi từ Hà Đông tiến ra, một người chiếm lĩnh Hà Bắc, một người giữ Sơn Tây, thì quân địch buộc phải bố trí hai viên dũng tướng ở mỗi nơi Phạm Dương và Trường An. Bệ hạ hãy tập trung quân đội ở Phụng Tường, cùng Quách và Lý luân phiên tấn công phản quân.
Chúng giữ Trường An thì ta đánh Phạm Dương, chúng giữ Phạm Dương thì ta đánh Trường An. Cứ để quân địch bị kéo qua kéo lại trên mấy nghìn dặm đường, mệt mỏi kiệt quệ, còn ta thì “dĩ dật đãi lao”, lấy cái nhàn của mình mà đợi cái mệt của địch. Chúng tới thì ta lui, chúng lui thì ta đuổi, không công thành, cũng không cắt đường vận lương, chỉ khiến chúng chạy đi chạy lại như vậy mà hao tổn sức lực. Sang năm, để con của bệ hạ là Lý Đảm từ Tái Bắc phối hợp với Lý Quang Bật tiến đánh Phạm Dương, lúc ấy tất có thể giành thắng lợi”.
Đường Túc Tông nghe xong thì vô cùng hài lòng.
