Vào tháng 6 năm 204 trước Công nguyên, Lưu Bang biết rằng không thể giữ được Thành Cao, bèn bỏ trốn một lần nữa. Lần này, Lưu Bang không quay về Quan Trung, mà vượt sông Hoàng Hà lên phía Bắc, đến nơi đóng quân của Hàn Tín và Trương Nhĩ tại Tu Vũ (nay thuộc huyện Tu Vũ, tỉnh Hà Nam).
Lưu Bang và Tằng công không đến gặp Hàn Tín ngay, mà tìm một nơi nghỉ ngơi chợp mắt. Sáng hôm sau, họ dậy thật sớm, Lưu Bang tự xưng là sứ giả nhà Hán, phóng ngựa xông thẳng vào doanh trại. Nhân lúc Hàn Tín và Trương Nhĩ còn chưa thức dậy, ông đã đoạt lấy ấn tướng của cả hai người.
Vào thời Hán, người ta rất coi trọng ấn tín – nhận ấn chứ không nhận người. Ai giữ ấn thì người đó có binh quyền. Vậy nên hành động này của Lưu Bang chẳng khác nào tước đoạt quyền chỉ huy quân đội của Hàn Tín và Trương Nhĩ. Đến khi hai người thức dậy mới biết Lưu Bang đã đến, liền vô cùng kinh hãi.
Lưu Bang ra lệnh cho Trương Nhĩ đi tuần hành các vùng đất thuộc nước Triệu, phong Hàn Tín làm tướng quốc, và sai Hàn Tín đem quân đi đánh nước Tề. Cùng lúc đó, Thành Cao lại một lần nữa thất thủ. Số quân lính thoát khỏi Thành Cao lại tìm đến tụ hội dưới trướng Hán vương.
Tháng 8 năm 204 TCN, Lưu Bang – sau khi quân thế đã được phục hồi – đã dẫn đại quân vượt sông Hoàng Hà về phía Nam, lệnh cho đường huynh là Lưu Giả và Lư Duy đem hai vạn bộ binh phối hợp cùng Bành Việt, tiếp tục quấy rối con đường tiếp tế của quân Sở. Bành Việt thậm chí còn chiếm được mười bảy thành vốn thuộc nước Ngụy trước kia.
Tháng 9, Hạng Vũ – giận không thể nhịn được nữa – bèn lệnh cho Tào Cữu tử thủ Thành Cao, còn mình thì đích thân đem quân đi đánh Bành Việt. Bành Việt thấy Hạng Vũ đến, lại phải lui quân một lần nữa.
Kỳ thực, Hạng Vũ lẽ ra nên rút ra được một bài học: phải tìm cách thu phục lòng dân. Nhưng vì quá tức giận trước sự quấy phá của Bành Việt, khi chiếm được thành Ngoại Hoàng – vốn do Bành Việt chiếm giữ – Hạng Vũ lại chuẩn bị tàn sát người dân trong thành. Ông ra lệnh: tất cả nam giới từ mười lăm tuổi trở lên phải tập trung về phía Đông thành để chuẩn bị chôn sống.
Lúc ấy, có một đứa trẻ mười ba tuổi – là gia nô trong nhà huyện lệnh Ngoại Hoàng – đã can gián Hạng Vũ rằng: “Bành Việt dựa vào bạo lực mà chiếm Ngoại Hoàng, dân trong thành vì sợ hãi nên mới đầu hàng. Kỳ thực họ chỉ mong đại vương đến cứu. Nhưng nay đại vương đến mà lại muốn tàn sát, thì dân chúng nào còn dám đầu hàng nữa? Phía Đông nơi đây, Bành Việt vẫn còn chiếm hơn mười thành, nếu ngài tàn sát thành này, tất cả những thành kia nhất định sẽ liều chết chống lại.”
Hạng Vũ nghe lời can gián, bèn tha cho dân chúng Ngoại Hoàng. Từ đó, từ Ngoại Hoàng đến Tuỳ Dương, các thành do Bằng Việt chiếm đóng lần lượt quy thuận về với Hạng Vương.
Lưu Bang thấy Hạng Vũ quá mạnh, bèn chuẩn bị bỏ Thành Cao, rút lui về phía Tây, đến khu vực Củng và Lạc Dương (nay thuộc huyện Củng, tỉnh Hà Nam). Lúc này, Lệ Thực Kỳ đã khuyên Lưu Bang ở lại. Ông đưa ra một kế sách rất hay.
Nếu ta xem lại lịch sử cuộc chiến Hán – Sở, kể cả trước đó là chiến tranh diệt Tần, sẽ nhận ra rằng: không có một mưu kế lớn nào là do Lưu Bang tự nghĩ ra, cũng không có một trận đánh lớn nào là do ông trực tiếp chỉ huy. Thế nhưng, vào những thời khắc quyết định, luôn có người dâng kế sách tuyệt diệu, và Lưu Bang không những hiểu được giá trị của kế sách đó, mà còn lập tức làm theo.
Lệ Thực Kỳ nói với Lưu Bang: “Hiện tại giữ Thành Cao chỉ là quân ô hợp do Tào Cữu chỉ huy. Bên cạnh là kho lương quan trọng ở Ngao Thương – nơi triều Tần từng tích trữ rất nhiều lương thực. Đại vương nhất định phải nắm bắt thời cơ này, chiếm lấy Ngao Thương, đánh hạ Thành Cao, rồi phản công trở lại Ứng Dương. Khi ấy thế cuộc thiên hạ sẽ trở nên rõ ràng, các anh hùng khắp nơi sẽ phản bội Hạng Vũ để quay sang theo ngài.”
Kế sách thứ hai mà Lệ Thực Kỳ đề xuất là đối phó với nước Tề. Ông nói: “Thần nguyện dùng ba tấc lưỡi, đi thuyết phục nước Tề đầu hàng đại vương.” Lưu Bang nghe theo lời khuyên ấy, sai Lệ Thực Kỳ đi thuyết phục Tề vương Điền Quảng.
Trước đó, khi Hạng Vũ đi đánh Bành Việt, đã dặn Tào Cữu rằng: “Nếu Lưu Bang khiêu chiến, tuyệt đối không được ra đánh. Chỉ cần ngăn không cho hắn tiến về phía Đông là được. Cho ta mười lăm ngày, ta sẽ dẹp xong Bành Việt, rồi quay về hợp binh với ngươi.” Tào Cữu cũng đồng ý.
Thế nhưng, khi Lưu Bang ra mắng nhiếc trước trận, Tào Cữu không nhịn được nữa, bèn hạ lệnh cho quân vượt sông Tị Thủy. Nhưng binh lính mới đi được một nửa thì quân Hán đã phát động tấn công. Quân Sở đại bại, toàn bộ vàng bạc và quân nhu rơi vào tay Lưu Bang. Tào Cữu và Tư Mã Hân đều thắt cổ tự vẫn tại sông Tị Thủy. Quân Hán sau đó vượt sông, chiếm lại Thành Cao.
Quân Hán tiến quân về phía Đông đến Quảng Vũ. Trận chiến lần này đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trên mặt trận chính trong cuộc chiến giữa Hán và Sở. Trước đó, Hạng Vũ luôn là bên chủ động tấn công, còn Lưu Bang ở thế phòng thủ. Nhưng lần này, Lưu Bang đã chiếm được lương thực và của cải của quân Sở, kiểm soát được Ngao Thương – kho lương quan trọng – khiến quân đội Tây Sở rơi vào khủng hoảng thiếu hụt lương thực.
Lúc ấy, Hạng Vũ vừa đánh đuổi được Bành Việt, nghe tin Thành Cao thất thủ liền lập tức kéo quân quay về cứu viện. Quân Hán và quân Sở đối đầu ở Quảng Vũ. Lúc này đã là tháng 10 năm 204 trước Công nguyên.
Trước đó, Lệ Thực Kỳ từng dâng cho Lưu Bang hai kế sách: một là tiến quân chiếm Ứng Dương, khống chế Ngao Thương; hai là đi thuyết phục Tề vương Điền Quảng đầu hàng. Kế thứ nhất đã được thực hiện thành công. Kế thứ hai cũng diễn ra thuận lợi: Tề vương Điền Quảng sớm tin vào lời Lệ Thực Kỳ rằng Lưu Bang là thiên tử được mệnh trời, nên đã rút bỏ phòng bị với quân Hán và chuẩn bị đầu hàng.
Cũng trong tháng ấy – tức tháng mà Lưu Bang tái chiếm Thành Cao – Hàn Tín, theo lệnh của Lưu Bang, đem quân đánh Tề. Tháng 10 năm 204 TCN, đại quân Hàn Tín đã tiến sát đến kinh đô nước Tề là Lâm Tri. Vốn dĩ Hàn Tín không muốn đánh trận này, vì nghe nói Lệ Thực Kỳ đã thuyết phục thành công. Nhưng vì đó là mệnh lệnh của Lưu Bang, nên ông vẫn hạ thành Lâm Tri. Tề vương Điền Quảng hoảng sợ, cầu viện Hạng Vũ.
Giờ đây, thấy thế cục đã nghiêng hẳn về phía Lưu Bang: phía Đông là nước Tề, phía Bắc là nước Yên và nước Triệu, trung nguyên có nước Ngụy, phía Tây là vùng Quan Trung – tất cả đều đã nằm trong tay Lưu Bang. Dù Hạng Vũ từng đánh đâu thắng đó, xuất binh bốn phía, nhưng lực lượng ngày càng suy yếu, đặc biệt sau khi mất Ngao Thương, lương thực không còn dồi dào. Có thể nói, ngày tàn của Hạng Vũ đã gần kề.
Vậy thì Hạng Vũ đã đưa ra những quyết sách chính trị và quân sự gì để ứng phó? Cuối cùng ông đã thất bại ra sao?
Xin mời xem chương tiếp theo: “Tứ diện Sở ca”.
