Khi nhắc tới Tùy Dạng Đế, người ta thường nhớ tới Đại Vận Hà và cuộc sống vô cùng xa xỉ của ông ta. Nhưng những điều ấy không phải là nguyên nhân trực tiếp khiến dân chúng nổi dậy, bởi vì các công trình lớn đều đã hoàn thành trước khi biến loạn bùng phát.
Ngòi nổ trực tiếp làm nhà Tùy diệt vong chính là những cuộc chiến tranh đối ngoại. Trên phương diện bành trướng lãnh thổ, Tùy Dạng Đế là một kẻ “cùng binh độc vũ”. Tức là ông ta dùng hết binh lính, vắt kiệt quân lực, ham thích gây chiến với các nước khác, coi chiến tranh như trò đùa.
Trong những bài trước, chúng tôi đã nói về cuộc sống xa xỉ của Tùy Dạng Đế Dương Quảng và những cuộc xuất tuần với quy mô cực kỳ hoành tráng của ông ta. Dương Quảng luôn muốn bản thân là người nổi bật nhất, thu hút mọi ánh nhìn. Ông ta cho xây dựng vô số công trình khổng lồ — từ thuyền rồng Long Chu đến Quan Phong Hành Điện, từ việc chiêu đãi sứ giả người Đột Quyết, cho đến nghi trượng tiếp kiến các quốc vương và sứ thần Tây Vực, ngay giữa đồng cỏ mênh mông — tất cả đều nhằm thỏa mãn sự xa hoa tột độ mà ông ta theo đuổi.
Trong thời bình, mỗi lần xuất hành, Tùy Dạng Đế mang theo năm mươi vạn đại quân, đoàn xe vận lương nối dài ngàn dặm không dứt — tất cả chỉ để phô trương sự tôn nghiêm tối thượng, củng cố lòng hư vinh đứng trên vạn người của Tùy Dạng Đế.
Lòng hư vinh dẫn đến ghen tỵ. Đối với những người tài năng và uy vọng cao, Dương Quảng hoàn toàn không thể dung tha. Vậy nên, Tùy Dạng Đế đã giết hại các đại thần như Cao Quýnh, Hạ Nhược Bật.
Nếu Dương Tố không chết sớm, có lẽ ông ta cũng sẽ rơi vào kết cục giống như Cao Quýnh và Hạ Nhược Bật. Trong âm mưu phế thái tử và sát hại Tùy Văn Đế khi trước, gồm những người như Dương Quảng, Dương Tố, Trương Hành, Vũ Văn Thuật. Dương Tố chết sớm, Trương Hành bị Dương Quảng ban chết, còn Vũ Văn Thuật thì lại được sủng tín, cuối cùng chết yên ổn trên giường nhà mình.
Lý do rất đơn giản: Vũ Văn Thuật rất giỏi nịnh hót, rất biết cách tránh làm tổn thương đến lòng hư vinh của Dương Quảng.
Lòng ghen tỵ của Tùy Dạng Đế dần dần tăng mạnh hơn trước. Tùy Dạng Đế tự cho mình là người văn tài xuất chúng, nên hết thảy những ai viết văn hay hơn, đều khiến ông ta khó chịu và đố kỵ.
Trong Tư Trị Thông Giám có viết một đoạn như sau:
Hoàng đế giỏi viết văn, nhưng không chịu nổi việc người khác viết hay hơn mình. Khi Tiết Đạo Hành chết, hoàng đế hả hê, mỉa mai rằng: “Hắn còn làm được câu ‘Không lương lạc yến nê’ nữa không?” Đến khi Vương Trụ chết, hoàng đế hả hê nói: “Hắn còn làm được câu ‘cỏ sân không người, tùy ý xanh’ như thế nữa không?”
Dương Quảng tự phụ về tài học, nên xem thường sĩ nhân trong thiên hạ. Ông ta từng nói với các quan rằng: “Thiên hạ đều nói trẫm nhờ vào cơ nghiệp tổ tông mà có được. Nhưng giả như trẫm cùng sĩ đại phu đem tài học ra so cao thấp, thì trẫm vẫn phải là thiên tử vậy.’”
Vì lòng hư vinh, Dương Quảng cũng không thể chịu nổi việc người khác đúng hơn mình, nên ông ta đã không nghe mọi lời can gián. Có lần, khi đang trò chuyện với một viên quan bí thư lang, Dương Quảng nói: “Ta ghét nhất là có người góp ý với ta. Ai mà mong nhờ góp ý để lấy tiếng tốt, ta càng chịu không nổi. Nếu là kẻ địa vị thấp mà dám nói ta sai hai câu, ta có thể tạm thời bỏ qua… nhưng không sớm thì muộn, ta cũng sẽ báo thù. Những điều này, khanh phải nhớ cho kỹ.”
Với tính cách như vậy, ta có thể hiểu vì sao Dương Quảng rất thích cảm giác được vạn quốc đến triều bái. Nếu một quốc gia tỏ thái độ thuần phục, ông ta có thể ban cho họ phần thưởng cực kỳ hậu hĩnh. Nhưng nếu một quốc gia tỏ ra đối kháng, hoặc thậm chí chỉ đơn giản là thờ ơ, không tỏ ra cung kính, thì Dương Quảng nhất định sẽ dùng toàn binh lực quốc gia để tấn công và khuất phục họ. Chính vì thế, Tùy Dạng Đế Dương Quảng đã huy động đại quân, xuất binh chinh phạt bốn phương, trở thành một vị hoàng đế dùng binh độc đoán, khiến thiên hạ rúng động.
Sau khi đăng cơ chưa đầy một năm, Dương Quảng đã phát động cuộc chiến tranh đầu tiên, nhằm vào nước Lâm Ấp — đây chính là tiền thân của nước Chăm Pa, chính là khu vực miền Trung Việt Nam ngày nay. Còn khu vực Giao Chỉ thì vẫn còn đang thuộc lãnh thổ nhà Tùy, đối với người Việt Nam thì giai đoạn này đang là 1000 năm Bắc thuộc.
Khi đó, Tùy Dạng Đế phong Lưu Phương làm Hành quân đại Tổng quản, tiến đánh nước Lâm Ấp. Vua nước Lâm Ấp là Phạm Chí đã dàn trận bằng tượng binh, lấy voi làm mũi nhọn xông trận.
Lưu Phương cho quân đào hàng loạt hố sập, rồi giả vờ thua chạy. Quân Lâm Ấp đuổi theo, voi chiến lần lượt rơi xuống hố. Lưu Phương lập tức ra lệnh dùng cung tên bắn tới tấp. Voi bị thương hoảng loạn, quay đầu xông về phía đại doanh của Lâm Ấp, giẫm đạp chính quân mình. Cuối cùng, vua Phạm Chí chạy trốn ra biển. Tùy Dạng Đế chiếm vùng đất phía Bắc Lâm Ấp và khu vực vịnh Kim Lan (tức Cam Ranh ngày nay).
Mặc dù giành chiến thắng, nhưng quân nhà Tùy đã phải hành quân trên một đoạn đường rất xa. Khi Lưu Phương rút quân, ông mắc bệnh và qua đời giữa đường. Binh sĩ thì mắc chứng chân phù thũng, sưng lên rồi chết, tỷ lệ tử vong lên tới 40–50%.
Sau đó, Tùy Dạng Đế phái đại quân xuất chinh, tấn công nước Lưu Cầu — tức là Đài Loan ngày nay. Năm Đại Nghiệp thứ sáu (tức năm 610), Tùy Dạng Đế phái tướng Trần Lăng cùng Trương Trấn Châu, xuất phát từ Nghĩa An (nay là Triều Châu) vượt biển tiến đánh nước Lưu Cầu. Quân Tùy thắng như chẻ tre, rất nhanh đã đánh hạ đô thành, bắt sống một vạn người, đưa về nước.
Qua mô tả của chính sử, chúng ta không thấy Lâm Ấp hay Lưu Cầu có bất kỳ hành động nào xúc phạm hay gây hấn với nhà Tùy. Thế nhưng Tùy Dạng Đế vẫn xuất quân tiến đánh. Tùy Dạng Đế còn phái sứ giả đến nước Chân Lạp (nay là Campuchia), và đến nước Bà Lợi (nay là Malaysia). Vì thế, hai nước này đều phải phải thần phục và dâng cống phẩm cho nhà Tùy.
Tùy Dạng Đế lại cho người sang Nhật Bản. Khi ấy, nước Nhật được gọi là Oa quốc. Từ thời Hán – Ngụy, người Nhật đã từng mượn đường ở bán đảo Triều Tiên để đi sứ sang Trung Quốc, và chữ Hán, thi ca, kinh Phật… cũng theo con đường này mà truyền đến Nhật Bản.
Đến thời Tùy Dạng Đế, Thiên hoàng Nhật Bản là nữ vương A Mỹ Đa Lợi Tư Bắc Cô, bà là một nữ quân chủ rất có năng lực. Nữ vương Nhật bản đã phái đại thần Tiểu Dã Muội Tử sang nhà Tùy — dù cái tên này nghe như nữ nhân, nhưng đó là một nam nhân. Chỉ một năm sau đó, người Nhật bắt đầu phái những lưu học sinh, tăng nhân, và các đoàn sứ bộ sang Trung Quốc. Chính những đoàn người này đã trở thành tiền thân của phái bộ Khiển Đường sứ lừng danh trong thế kỷ sau.
Tùy Dạng Đế đã xâm lược các nước như Lâm Ấp, Lưu Cầu ở phía Nam, tấn công Thổ Dục Hồn ở phía Tây. Thế nhưng vẫn chưa đủ, ông ta còn nhắm tới vùng Đông Bắc. Đó là khu vực sinh sống của người Khiết Đan.
Khiết Đan vốn là một bộ tộc du mục thuộc nhóm Đông Hồ, xuất hiện sớm trong ghi chép Bắc triều, từng xưng thần và triều cống cho Bắc Ngụy. Dân tộc này cư trú tại vùng giáp ranh giữa Liêu Ninh, Hà Bắc và Nội Mông ngày nay. Phía Tây của Khiết Đan là bộ tộc Đột Quyết hùng mạnh, phía Đông là Cao Câu Ly, Khiết Đan bị hai thế lực lớn chèn ép.
Thế nhưng, năm đầu tiên khi Tùy Dạng Đế lên ngôi, không rõ vì lý do gì mà người Khiết Đan bất ngờ xâm nhập biên giới nhà Tùy. Tùy Dạng Đế phái Vi Vân Khởi mượn quân của Đột Quyết. Khởi Dân khả hãn liền phái hai vạn binh mã cho Vi Vân Khởi chỉ huy.
Vi Vân Khởi bất ngờ tập kích, bắt được bốn vạn người Khiết Đan, cả nam lẫn nữ. Toàn bộ đàn ông bị giết hại. Phụ nữ thì một nửa được ban thưởng cho Đột Quyết, phần còn lại đưa về cho triều đình nhà Tùy.
Kể từ đó, Khiết Đan nguyên khí đại thương, trở thành nước lệ thuộc của nhà Tùy. Thế nhưng về sau, vào cuối thời Đường và đầu thời Bắc Tống, dân tộc này lại trỗi dậy mạnh mẽ, lập nên nước Đại Liêu hiển hách trong lịch sử Đông Á.
Ở phía đông của Khiết Đan chính là vương quốc Cao Câu Ly, còn được gọi tắt là Cao Ly. Tên tiếng Anh Korea ngày nay chính là âm chuyển từ chữ Cao Ly. Từ thời Chu, nơi đây là thái ấp của Ky Tử, nên còn gọi là Ky Tử Triều Tiên. Đầu thời Hán, người Yên là Vệ Mãn đã chiếm cứ Triều Tiên, lập ra Vệ thị Triều Tiên. Về sau, Hán Vũ Đế tiêu diệt Vệ thị Triều Tiên và lập ra bốn quận tại vùng đất này.
Từ đó về sau, lịch sử khu vực này trở nên phức tạp và đôi phần mờ nhạt. Vào cuối thời Tây Hán, tại vùng Đông Bắc Trung Quốc có một bộ lạc tên là Phù Dư, hoàng tử của Phù Dư là Chu Mông đã lập ra vương quốc Cao Câu Ly, gọi tắt là Cao Ly.
Trong thời Đông Hán, Tam Quốc, Lưỡng Tấn và Nam – Bắc triều, Cao Câu Ly lúc thì giao chiến, lúc thì lại hòa hảo với Trung Quốc, nhưng đa phần vẫn là phiên quốc của Trung Hoa.
Thời cực thịnh, lãnh thổ Cao Câu Ly bao gồm: miền Bắc bán đảo Triều Tiên, cộng với miền Nam Mãn Châu ngày nay (tức là vùng Đông Bắc Trung Quốc), kéo dài từ đông sang tây hơn 2.000 dặm, từ bắc xuống nam hơn 1.000 dặm. Vùng này bao gồm cả khu vực Liêu Dương, Thẩm Dương, Phủ Thuận của tỉnh Liêu Ninh ngày nay. Kinh đô đặt ở Bình Nhưỡng.Tuy nhiên, Cao Câu Ly chưa từng chiếm được hoàn toàn phía Nam bán đảo, bởi vì nơi đó vẫn tồn tại hai quốc gia: phía tây là Bách Tế, phía đông là Tân La.
