Tuy Trạch Nhượng là người sáng lập Ngõa Cương Trại, và trong các trận chiến trước sau, đều tự mình xông pha trận mạc, nhưng cuối cùng ông lại chọn nhường bước. Trạch Nhượng chủ động trao quyền lãnh đạo tối cao của Ngõa Cương Trại cho Lý Mật, tôn Lý Mật làm vương, dâng tôn hiệu là Ngụy Công.
Từ đó, Lý Mật bắt đầu thiết lập triều đình riêng, trọng dụng những người tài năng như: Đơn Hùng Tín, Từ Thế Tích, Tần Quỳnh, La Sĩ Tín, Trình Giảo Kim… Trong đó, Tần Quỳnh và Trình Giảo Kim chỉ huy tám nghìn binh sĩ, làm đội thân vệ của Lý Mật. Lý Mật nói tám nghìn người này có thể chống lại trăm vạn địch quân.
Lúc ấy, từ phía nam vùng Triệu – Ngụy thời Chiến Quốc, đến phía bắc Trường Giang và Hoài Hà, có vô số đội quân khởi nghĩa nối nhau kéo đến quy phục Lý Mật. Chẳng bao lâu, Lý Mật đã có trong tay hàng chục vạn binh mã.
Lý Mật liền ra lệnh cho hộ quân của mình là Điền Mậu Quảng xây dựng Lạc Khẩu Thành, chu vi khoảng bốn mươi dặm vuông, và Lý Mật dời vào ở trong đó. Ông tiếp tục mở rộng thế lực đến vùng nay thuộc An Huy và Sơn Đông, sự nghiệp Ngõa Cương Trại vì thế càng lúc càng hưng thịnh.
Đến lúc này, Lý Mật bắt đầu chuẩn bị cho việc lật đổ Đại Tùy và dựng lập thiên hạ của riêng mình. Ông sai Tổ Quân Ngạn soạn hịch văn, tố cáo mười đại tội của Tùy Dạng Đế, công bố khắp thiên hạ. Trong hịch có câu nổi tiếng rằng: “Trúc Nam Sơn không ghi hết tội, nước Đông Hải không rửa sạch mùi”.
Sau này, Nguyễn Trãi đã mượn ý văn này để soạn bài Bình Ngô Đại Cáo. Tuy nhiên, phiên bản tiếng Hán của Nguyễn Trãi khác với bản của Tổ Quân Ngạn. Nhưng khi dịch sang tiếng Việt hiện đại thì ý nghĩa tương tự nhau.
Khi Ngõa Cương quân đang lúc hùng mạnh, thì nội bộ lại xảy ra tranh chấp — một chuyện nói ra cũng thật não nề.
Thuộc hạ của Trạch Nhượng không cam lòng khi thấy ông đem quyền lực tối cao dâng cho người khác, nên họ khuyên Trạch Nhượng hãy giữ chức Đại Trủng Tể — tương đương tể tướng, để từ đó thu hồi quyền lực từ tay Lý Mật. Nhưng Trạch Nhượng hoàn toàn không có ý định ấy.
Anh trai của Trạch Nhượng là Trạch Hoằng, là một người thô lỗ và ngu muội. Trạch Hoằng đã nói với em rằng: “Ngươi phải tự làm thiên tử, sao lại nhường cho người khác? Dù ngươi không muốn làm, thì ta còn muốn làm thiên tử nữa đây!” Trạch Nhượng nghe xong thì cười lớn, coi đó chỉ là lời nói nhảm, chẳng buồn để tâm. Nhưng khi Lý Mật nghe được chuyện này, trong lòng bắt đầu cảm thấy chán ghét.
Tuy Trạch Nhượng không màng quyền lực, nhưng lại rất tham tài vật. Có lần ông than phiền với quan trưởng sử của Lý Mật rằng: “Gần đây ngươi đánh chiếm Nhữ Nam, thu được rất nhiều của báu, nhưng lại dâng hết cho Ngụy Công, còn ta thì chẳng được gì. Ngươi nên biết, Ngụy Công là do chính ta tôn lập. Tương lai thế nào còn chưa biết được đâu!”
Quan trưởng sử sợ hãi, liền đem chuyện này bẩm báo với Lý Mật, đồng thời khuyên Lý Mật nên trừ khử Trạch Nhượng.
Ban đầu Lý Mật không đồng ý, nhưng những chuyện tương tự như vậy đã liên tiếp xảy ra mấy lần. Thế là Lý Mật đã hạ quyết tâm.
Lý Mật mời Trạch Nhượng đến uống rượu, cũng mời cả người anh là Trạch Hoằng và mấy thân tín của họ. Lý Mật bày mưu, cho mời toàn bộ vệ binh của Trạch Nhượng ra ngoài uống rượu, Trạch Nhượng không chút nghi ngờ.
Đến lúc ấy, Lý Mật lấy ra một cây cung, đưa cho Trạch Nhượng xem. Khi Trạch Nhượng kéo căng dây cung, thì một tráng sĩ dưới quyền Lý Mật là Thái Kiến Đức đã bất ngờ rút đao chém từ sau lưng, trực tiếp sát hại Trạch Nhượng. Trạch Hoằng và mấy kẻ thân tín cũng bị trảm sát cùng lúc.
Từ Thế Tích thấy tình hình không ổn liền lao vội ra ngoài trướng, nhưng bị vệ binh ở cửa chém vào cổ, suýt nữa mất mạng. Đúng lúc ấy, Vương Bá Đương từ xa quát lớn, khiến vệ binh dừng tay.
Khi đó, Đơn Hùng Tín vội vã quỳ xuống, cầu xin tha mạng, và Lý Mật đã thả ông ta ra.
Sự việc này khiến mọi người trong doanh trại đều sững sờ.
Lý Mật đứng ra trấn an, ông nói: “Trạch Nhượng tham lam, bạo ngược với thuộc hạ, sỉ nhục quan lại, coi thường quân thượng. Nay ta chỉ giết nhà hắn, còn người khác ta không truy cứu”. Nói xong, ông tự tay băng bó vết thương cho Từ Thế Tích.
Quân sĩ dưới quyền Trạch Nhượng có ý muốn tan rã, Lý Mật liền giao cho Đơn Hùng Tín phụ trách an ủi họ. Sau đó, chính Lý Mật một mình đi vào đại doanh của Trạch Nhượng để trấn an toàn quân, rồi ra lệnh cho Từ Thế Tích, Đơn Hùng Tín, và Vương Bá Đương chia nhau thống lĩnh binh sĩ của Trạch Nhượng.
Vì Trạch Nhượng xưa nay không hề biết thương xót thuộc hạ, nên khi ông bị giết, binh sĩ dưới quyền cũng không mấy bi thương. Nhưng vấn đề là — các tướng lĩnh dưới trướng Lý Mật đã bắt đầu mất lòng tin vào ông.
Việc Lý Mật giết Trạch Nhượng ít nhất đã chứng minh một điều: Lý Mật là người rất tàn nhẫn. Bởi sự nghiệp mà Lý Mật có được, hoàn toàn là nhờ vào lòng cưu mang và giúp đỡ của Trạch Nhượng thuở ban đầu. Mà nếu Trạch Nhượng thực sự muốn phản loạn, thì cần gì phải nhường ngôi cho Lý Mật? Vậy nên có thể nói, Lý Mật đã ra tay tàn nhẫn.
Thời đó, những người dựng cờ tạo phản có không dưới bốn, năm chục nhóm. Và có nhiều kẻ còn tàn độc hơn cả Lý Mật. Thế thì phải đi đâu mới tìm được một quân sư nhân nghĩa — vừa có thực lực quân sự để lật đổ nhà Tùy, lại vừa có lòng nhân ái để cứu dân khỏi cảnh nước sôi lửa bỏng đây?
