Bước tiếp theo trong kế hoạch của Vương Thế Sung chính là tiêu diệt Lý Mật. Khi đó, cả Vương Thế Sung và Lý Mật đều gặp khó khăn nghiêm trọng, nhưng mỗi người lại vướng phải một loại rắc rối khác nhau. Vương Thế Sung bị thiếu lương thực nghiêm trọng ở Đông Đô. Còn Lý Mật thì có lương thực dồi dào, nhờ chiếm được kho lương Lê Dương và Lạc Khẩu, nhưng Lý Mật lại rất thiếu tiền — mà không có tiền thì không thể ban thưởng cho tướng sĩ đã lập công.
Vương Thế Sung bèn đề nghị dùng lụa gấm của Đông Đô để đổi lấy lương thực của Lý Mật. Lý Mật lập tức đồng ý.
Trước kia, mỗi ngày có hàng trăm người từ Đông Đô vì đói mà phải bỏ trốn, chạy sang đầu quân cho Lý Mật. Nhưng khi Đông Đô đã có đủ lương thảo, binh sĩ nơi đó không còn lý do gì để đầu quân cho Lý Mật nữa.
Mặt khác, Lý Mật chỉ coi trọng những người mới quy thuận, mà lại xao nhãng những thuộc hạ cũ đã theo mình từ trước. Từ Thế Tích có lời khuyên can, nhưng Lý Mật lại không vui, Lý Mật phái Từ Thế Tích ra Lê Dương để phòng bị Vũ Văn Hóa Cập.
Sau khi Lý Mật đánh bại hơn mười vạn quân Kiêu Quả của Vũ Văn Hóa Cập, thì quân tinh nhuệ và chiến mã của Lý Mật cũng tổn thất quá nửa, binh sĩ vô cùng mệt mỏi. Lúc này, Vương Thế Sung tập kết hai vạn quân tấn công Lý Mật. Lý Mật và Ngụy Trưng đều cho rằng: nên đắp lũy cao, hào sâu, giữ vững phòng tuyến, chưa đến mười ngày sau, quân của Vương Thế Sung sẽ hết lương thảo, tự nhiên sẽ tan vỡ mà không cần đánh.
Nhưng các võ tướng như Đan Hùng Tín lại cho rằng nên trực tiếp tiến đánh. Bởi vì quân số của Lý Mật vẫn đông hơn so với Vương Thế Sung, thêm vào đó là những binh sĩ từ Giang Hoài và Kiêu Quả mới đến quy thuận, cũng nóng lòng mong được lập công, nên họ cho rằng nên chủ động xuất chiến.
Thế là Lý Mật bỏ qua kế hoạch ban đầu của mình, nghe theo ý kiến xuất kích. Kết quả là khi giao chiến, Lý Mật liên tiếp thất bại.
Ngoài việc bố trí phục binh ở núi Bắc Mang, Vương Thế Sung còn tìm một người có dung mạo rất giống Lý Mật, giấu người đó ở một nơi kín đáo. Đợi đến lúc giao chiến kịch liệt, hắn cho trói người đó lại, đẩy ra trước trận tiền, rồi để binh sĩ đồng loạt hô lớn: “Chúng ta đã bắt được Lý Mật rồi, chúng ta bắt sống được Lý Mật rồi!”
Quân của Lý Mật nghe vậy thì thất kinh, ai nấy đều hoảng hốt. Đúng lúc ấy, quân mai phục từ trên núi cao bất ngờ đánh xuống. Quân đội của Lý Mật tan vỡ, ông dẫn hơn một vạn người chạy về Lạc Khẩu.
Một số lượng lớn văn võ bá quan và gia quyến của Lý Mật bị bắt. Vương Thế Sung đối đãi rất tử tế, để họ tiếp tục chiêu hàng những tướng sĩ từng theo Lý Mật.
Tướng trấn giữ Lạc Khẩu là Bính Nguyên Chân, là kẻ tham tiền, thấy Lý Mật bại trận thì lập tức đầu hàng Vương Thế Sung. Phần lớn địa bàn mà Lý Mật chiếm giữ trước đó đều bị mất, chỉ còn Từ Thế Tích trấn thủ Lê Dương. Lý Mật muốn chạy đến nương nhờ ông, nhưng thuộc hạ can ngăn, họ nói rằng: “Năm xưa khi ngài giết Trạch Nhượng, Từ Thế Tích bị liên lụy mà suýt chết. Nay ngài thất bại rồi đến, chẳng sợ hắn ta sẽ báo thù sao?”
Lý Mật nghĩ đi nghĩ lại thì thấy không còn nơi nào để đi. Cuối cùng ông quyết định mang theo Vương Bá Đương cùng các tướng lĩnh và hơn hai vạn binh sĩ, tiến vào Quan Trung, quy thuận Đường Cao Tổ Lý Uyên.
Trước đó, khi Lý Uyên vừa khởi binh ở Thái Nguyên để tiến đánh Quan Trung, thì Lý Mật ở Đông Đô đã giữ chân phần lớn quân chủ lực của nhà Tùy, giúp Lý Uyên giảm bớt áp lực rất nhiều. Vì vậy Lý Uyên rất cảm kích Lý Mật, nhờ đó mà Lý Mật có thể thuận lợi tiến vào Quan Trung.
Trong trận chiến này, Vương Thế Sung thu hoạch vô cùng lớn, không những đánh bại Lý Mật, mà còn chiêu nạp được rất nhiều đại tướng từng là thuộc hạ của Lý Mật, như Đan Hùng Tín, Trình Giảo Kim, Tần Quỳnh, La Sĩ Tín v.v. Toàn bộ vùng Hà Nam khi ấy đều rơi vào tay Vương Thế Sung.
Lại nói về Vũ Văn Hóa Cập ở phía bắc của Vương Thế Sung. Sau khi bại trận dưới tay Lý Mật, Vũ Văn Hóa Cập chạy trốn đến Ngụy huyện, binh sĩ dưới quyền tan rã từng ngày, ngay cả tâm phúc Trương Khải cũng có ý định ám sát hắn. Vũ Văn Hóa Cập phát giác, liền giết Trương Khải, xung quanh hầu như không còn ai đáng tin.
Vũ Văn Hóa Cập và em là Vũ Văn Trí Cập hoàn toàn bất lực, mỗi ngày họ chỉ biết uống rượu giải sầu, cho nhạc nữ múa hát mua vui. Hai anh em lại thường xuyên cãi nhau.
Vũ Văn Hóa Cập trách em:
“Giết Tùy Dạng Đế là do chính ngươi ép ta làm! Ngươi bắt ta phải đứng mũi chịu sào. Nay đại sự chẳng thành, binh mã ngày một tan rã, lại còn mang tiếng giết vua. Thiên hạ rộng lớn thế này mà chẳng có chỗ dung thân. Họa diệt tộc của nhà ta đều là do ngươi gây ra cả!”
Vũ Văn Trí Cập đáp lại:
“Khi mọi chuyện tiến triển thuận lợi thì sao ngươi không nói mấy lời ấy? Bây giờ thất bại rồi mới đổ lỗi cho ta. Nếu ngươi hận ta như thế, thì cứ giết ta đi!”
Cãi nhau xong, hai người lại tiếp tục uống rượu. Uống xong thì ngủ, tỉnh dậy lại uống. Hai anh em cứ như vậy, sống mơ hồ qua ngày, chìm trong rượu và tuyệt vọng.
Vũ Văn Hóa Cập biết chắc mình sớm muộn gì cũng thất bại, bèn than rằng: “Đời người ai rồi cũng phải chết, vậy thì tại sao không làm hoàng đế một lần rồi hãy chết?”
Nghĩ vậy, hắn đầu độc Tần vương Dương Hạo, rồi tự xưng hoàng đế, đặt quốc hiệu là Hứa, đổi niên hiệu thành Thiên Thọ, thiết lập đủ quan chế triều đình. Sự việc này diễn ra vào tháng 9 năm 618.
Đến tháng 10 năm 618, sau khi Vương Thế Sung đánh bại Lý Mật, hắn trở về Đông Đô báo tin thắng trận với Hoàng Thái Chủ. Vương Thế Sung được phong làm Thượng thư lệnh, Thái úy, Đô đốc nội ngoại binh mã, đồng thời được khai phủ — nghĩa là được lập phủ riêng, được chiêu mộ thuộc hạ, tự tổ chức bộ máy xử lý công việc. Từ đó trở đi, mọi đại sự triều đình đều phải đến phủ của Vương Thế Sung để xin chỉ thị và giải quyết, Hoàng Thái Chủ không còn chút thực quyền nào.
Đến tháng 3 năm 619, Vương Thế Sung ép Hoàng Thái Chủ phong mình làm Trịnh vương. Hắn lại cho ngụy tạo các loại điềm lành, phù mệnh, để tạo dư luận, chuẩn bị cho việc soán ngôi.
Đoạn Đạt, Vân Định Hưng và những người khác mang các “phù mệnh” giả này vào cung, trình lên Hoàng Thái Chủ. Họ nói: “Thiên mệnh đâu phải chuyện nhỏ nơi nhân gian. Nay Trịnh Vương công đức sâu dày, xin bệ hạ nhường ngôi, noi theo tấm gương Nghiêu – Thuấn thuở trước.”
Hoàng Thái Chủ giận dữ đáp:
“Thiên hạ này là của Cao Tổ truyền lại. Nếu vận số của nhà Tùy chưa dứt, thì những lời như vậy không nên nói. Còn nếu ý trời đã muốn đổi họ thay ngôi, vậy nhường hay không nhường thì cũng có ích gì? Các ngươi đều là cựu thần của tiên đế, nay lại nói ra những lời ấy… thật khiến ta thất vọng!”
Đoạn Đạt và những người khác đều rơi lệ. Cuối cùng họ cũng phải gác lại chuyện này.
Vương Thế Sung nghe tin, hắn phái người đến nói với Hoàng Thái Chủ rằng: “Nay quốc gia còn chưa yên định, cần phải có một minh chủ lớn tuổi hơn. Đợi đến khi thiên hạ thái bình, sẽ phục vị cho bệ hạ. Chúng thần nhất định tuân thủ minh ước năm xưa, quyết không trái lời.”
Tiếp đó, Vương Thế Sung mạo danh Hoàng Thái Chủ để ban ra một đạo chiếu thư, tuyên rằng hoàng vị nhà Tùy được nhường cho Vương Thế Sung. Sau đó, Vương Thế Sung giả vờ từ chối, rồi hắn lại tiếp tục giả mạo Hoàng Thái Chủ ban chiếu nhường ngôi lần nữa. Toàn bộ quá trình này, Hoàng Thái Chủ hoàn toàn không hề hay biết.
Đến tháng tư, Vương Thế Sung phái anh mình là Vương Thế Uẩn đến Hàm Lương điện phế bỏ Hoàng Thái Chủ, rồi hắn tự xưng hoàng đế, lập niên hiệu là Khai Minh, quốc hiệu thành Trịnh. Sau đó, hắn cho đầu độc Hoàng Thái Chủ, kết thúc sinh mạng của vị vua bù nhìn cuối cùng của nhà Tùy.
Trong hai năm 618 và 619, ở Trung Hoa có không dưới mười người xưng đế hoặc xưng vương. Những nhân vật chúng ta đã nhắc đến gồm:
- Lý Uyên xưng đế, chiếm cứ Quan Trung, miền nam Sơn Tây và Tứ Xuyên.
- Vũ Văn Hóa Cập xưng đế, thế lực rất nhỏ, chỉ chiếm một phần nam Hà Bắc.
- Đậu Kiến Đức xây dựng chính quyền tại bắc Hà Bắc, thực lực hùng mạnh.
- Vương Thế Sung xưng đế, chiếm Hà Nam, miền nam Sơn Đông, và vùng bắc Giang Tô.
Ngoài ra còn có:
- Tiết Cử và Lý Quỹ ở phía tây Thiểm Tây và khu vực Cam Túc.
- Lưu Vũ Chu chiếm cứ bắc Sơn Tây, liên minh với Đột Quyết.
- Đỗ Phục Uy chiếm Giang Hoài.
- Lương Sư Đô chiếm Hà Sáo
- Cao Khai Đạo chiếm khu vực Bắc Kinh ngày nay.
Ở phương Nam còn có Tiêu Tiển dựng nên nước Lương, lãnh thổ vô cùng rộng lớn: phía tây đến Tam Hiệp, phía đông đến Cửu Giang, nam đến Giao Chỉ, phía bắc tới Hán Thủy — tức là trải dài khắp Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây, Lưỡng Quảng, cho đến cả vùng đất Việt Nam ngày nay, đó là một tập đoàn quân sự đồ sộ.
Vậy ai sẽ là người có thể quét sạch quần hùng, dựng nên đại nghiệp thống nhất thiên hạ? Chúng tôi sẽ kể tiếp trong tập sau.
