Tập 85: Đường Thái Tông bình định chư hầu, nhà Đường bước vào thời thịnh thế

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 27/02/2026

Nhà Đường sau cuộc chiến với Thổ Dục Hồn, mối đe dọa đối với hành lang Hà Tây đã được giải trừ. Thế nhưng, để có thể thực sự khôi phục quyền kiểm soát vùng Tây Vực và khai thông lại Con đường Tơ lụa, triều Đường vẫn phải vượt qua rất nhiều chướng ngại. Ở phía tây bắc của Tây Vực, vẫn còn một lực lượng quân sự hùng mạnh là Tây Đột Quyết. Bên cạnh đó, các nước Cao Xương, Yên Kỳ và Quy Tư cũng đang cản trở sự giao lưu giữa Đại Đường và các quốc gia Tây Vực khác. Đồng thời, ở phía nam dãy Côn Lôn, một quốc gia hùng mạnh là Thổ Phồn đang trỗi dậy.

Chúng tôi sẽ lược thuật lại về cách Đường Thái Tông quản lý vùng Tây Vực. Thế lực quân sự mạnh nhất ở Tây vực là Tây Đột Quyết. Năm Vũ Đức nguyên niên dưới đời Đường Cao Tổ, Thống Diệp Hộ Khả Hãn của Tây Đột Quyết lên ngôi, quốc lực của họ ngày càng cường thịnh. Thời điểm này, các nước Tây Vực đều phải thần phục Tây Đột Quyết. Lãnh thổ của họ rất rộng, phía đông giáp Đông Đột Quyết giữa dãy Thiên Sơn và dãy A Nhĩ Thái, phía tây kéo dài đến Ba Tư (nay là Iran), phía nam đến Kế Tân (nay là Kashmir), còn phía bắc vươn tới Hãn Hải (tức là miền nam Siberia ngày nay).

Về sau, Tây Đột Quyết do nội loạn mà chia rẽ. Đến năm Trinh Quán thứ mười ba (tức năm 639), Đốt Lục Khả Hãn thống nhất được các bộ lạc. Rất nhanh sau đó, ông ta huy động đại quân để xâm lược Tây Vực, nhưng bị quan trấn thủ An Tây là Quách Hiếu Khác đánh bại. Do tính tình Đốt Lục Khả Hãn nóng nảy và bạo ngược, đến năm Trinh Quán thứ mười sáu, các bộ lạc Tây Đột Quyết đồng loạt thỉnh cầu Đại Đường cho lập một vị Khả hãn mới. Đường Thái Tông đồng ý, ông lập Ất Bì Dã Quỹ Khả Hãn lên ngôi. Thế là Đốt Lục Khả Hãn bỏ chạy sang Thổ Hỏa La (tức là miền bắc Afghanistan ngày nay).

Trước khi lập Khả hãn mới cho Tây Đột Quyết, Đường Thái Tông đã phát động một cuộc tiến công nhằm vào nước Cao Xương. Cao Xương nằm tại vùng Thổ Lỗ Phiên, ngày nay ở Tân Cương, giữ vị trí then chốt nối thông cả hai ngả bắc – nam của dãy Thiên Sơn. Dù đi theo tuyến nam hay tuyến bắc của Con đường Tơ lụa, các đoàn thương nhân đều phải đi qua nước Cao Xương. Tuy nhiên, vì nước này dựa vào Tây Đột Quyết, ngăn trở việc giao thương giữa các nước Tây Vực với Đại Đường, lại còn quấy nhiễu Y châu (nay là Hami), nhà Đường đã buộc phải ra tay.

Mùa đông năm Trinh Quán thứ mười ba, Đường Thái Tông lệnh cho Hầu Quân Tập dẫn vài vạn quân tiến đánh Cao Xương, khi ấy Hầu Quân Tập đang giữ chức Giao Hà hành quân đại tổng quản, kiêm Thượng thư Bộ Lại.

Đoàn quân nhà Đường vượt qua sa mạc dài hơn hai nghìn dặm, vượt qua cái nơi mà đất không có cỏ nước, gió đêm lạnh như dao, ban ngày nóng như lửa. Quân Đường bất ngờ xuất hiện trước biên giới nước Cao Xương. Nhận được tin báo cấp tốc từ biên giới, quốc vương nước Cao Xương là Khúc Văn Thái đã kinh hoảng đến mức không biết phải xử trí ra sao, ông phát bệnh mà qua đời, con trai là Khúc Trí Thịnh nối ngôi.

Tháng tám năm Trinh Quán thứ mười bốn (tức năm 640), quân Đường bao vây kinh đô Cao Xương. Các binh sĩ triển khai công phá thành trì một cách dữ dội, máy bắn đá ném vào trong thành như mưa. Biết rằng không thể địch lại được, Khúc Trí Thịnh buộc phải ra đầu hàng. Nhà Đường sáp nhập Cao Xương vào lãnh thổ, đặt tên là Tây Châu, đặt An Tây đô hộ phủ tại đây, bổ nhiệm Quách Hiếu Khác làm An Tây đô hộ, kiêm Thứ sử Tây Châu.

Đến năm Trinh Quán thứ 18, nước Yên Kỳ (nay ở vùng tây nam Yên Kỳ, Tân Cương) đã cấu kết với người Đột Quyết để chống lại Đại Đường, Quách Hiếu Khác đã tâu với Đường Thái Tông, xin được thân chinh dân quân để bình định Yên Kỳ.

Đến năm Trinh Quán thứ 21, để hoàn thành việc thống nhất toàn bộ Tây Vực, Đường Thái Tông phong A Sử Na Xã Nhĩ làm hành quân đại tổng quản, cùng với Khiết Bật Hà Lực, Quách Hiếu Khác và các tướng khác, dẫn mười vạn đại quân tiến đánh nước Quy Tư (kinh đô đặt tại Khố Xa, nay thuộc Tân Cương).

Mùa đông năm sau, quân Đường bắt sống thủ lĩnh Quy Tư là Bố Thất Tất, từ đó bình định hoàn toàn nước Quy Tư.

Các cuộc chiến với Tây Đột Quyết, Cao Xương, Yên Kỳ và Quy Tư đều diễn ra ở phía tây. Còn ở phía bắc, sau khi Đông Đột Quyết bị tiêu diệt, thảo nguyên mất đi bá chủ, và thế lực của Tiết Diên Đà ở Mạc Bắc đã thừa cơ trỗi dậy, tấn công vào khu vực Hà Sáo.

Năm Trinh Quán thứ 20, Đường Thái Tông phái Giang Hạ Vương Lý Đạo Tông cùng các tướng chia quân làm nhiều đạo, tiến đánh Tiết Diên Đà. Cuộc chiến diễn ra thuận lợi, quân Đường dành được chiến thắng lớn, các bộ lạc vốn quy phục Tiết Diên Đà thì quay sang đầu hàng Đại Đường. Trận đánh này là một thắng lợi lớn, Đường Thái Tông còn tự mình làm thơ ghi lại công nghiệp ấy.

Đồng thời, toàn bộ vùng phía bắc Trung Quốc – tức là khu vực tương đương với Ngoại Mông, thậm chí kéo dài tới miền nam Siberia – được triều Đường phân chia thành nhiều châu phủ và thực hiện quản lý trực tiếp.

Sau khi giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh đối với các nước khác, Đường Thái Tông luôn áp dụng một chính sách dân tộc hết sức khoan dung. Thông thường, đối với các thủ lĩnh của những bộ tộc bị bắt, Đường Thái Tông chỉ khiển trách, rồi lại phong cho họ làm tướng hoặc các chức vụ tương đương, thậm chí có lúc còn để họ trở về quê cũ, cho tiếp tục thống lĩnh bộ tộc của mình.

Đối với những người Hán bị bắt làm nô lệ bởi các bộ tộc ấy, Đường Thái Tông cũng không dùng tư thế của kẻ chiến thắng để ép buộc các Khả hãn phải giao ra tù binh. Ông đã lấy của cải trong quốc khố để chuộc nô lệ, mua lại theo đúng giá nô lệ đương thời. Những người Hán đang bị bắt làm nô lệ, nay được chuộc về, lại còn được cấp thêm tiền gạo để có thể trở về quê sinh sống, đồng thời còn được miễn 10 năm tiền thuế. Chính tấm lòng đối đãi bình đẳng này đã khiến các dân tộc đều chân thành quy phục và hướng về Đại Đường.

Đường Thái Tông từng nói: “Di địch cũng đều là người, tình cảm của họ chẳng khác gì Trung Hạ. Điều mà người quản lý thiên hạ phải lo là đức trạch của mình không thấm nhuần đến nơi, chứ không cần nghi kị những người khác chủng tộc. Đức trạch lan khắp, thì bốn phương đều trở thành một nhà, còn nếu chất đầy sự nghi kỵ, thì ngay cả cốt nhục cũng có thể hóa thành thù địch”.

Đường Thái Tông đối đãi với các tướng lĩnh thuộc mọi dân tộc như một thể thống nhất, ông trọng dụng tài năng của họ, không phân biệt nguồn gốc xuất thân. Khi đó có rất nhiều tướng lĩnh là người các bộ tộc lập được chiến công hiển hách, như Tả Kiêu Vệ Đại tướng quân A Sử Na Xã Nhĩ, Tả Lĩnh Quân tướng quân Chấp Thất Tư Lực, Hữu Lĩnh Quân tướng quân Khiết Bật Hà Lực , Tả Đồn Vệ tướng quân A Sử Na Trung, Hữu Vệ Đại tướng quân A Sử Na Tư Ma… Họ đều là những nhân vật nổi tiếng với tài năng xuất chúng, nhưng khi nhìn vào tên của họ, chúng ta thấy rằng họ không phải gốc là người Hán. Còn số tướng lĩnh là người các bộ tộc được trao chức tướng quân và bổ nhiệm trấn thủ các địa phương thì lại còn nhiều hơn.

Ngay khi Đường Thái Tông vừa đánh bại Đông Đột Quyết, các thủ lĩnh tứ di đã vào triều để bái kiến và thỉnh cầu tôn xưng Thái Tông bằng danh hiệu “Thiên Khả Hãn”. Đường Thái Tông đáp: “Trẫm là Thiên tử của Đại Đường, lẽ nào lại có thể làm những việc của Khả hãn sao?” Nhưng quần thần cùng chư phiên đều ủng hộ, họ đồng thanh hô vạn tuế. Từ đó về sau, mỗi khi viết thư cho các thủ lĩnh Tây Bắc, Đường Thái Tông đều xưng là Thiên Khả Hãn.

Năm Trinh Quán thứ 20 (tức năm 646), sau khi đánh bại Tiết Diên Đà, các bộ lạc khác vốn thuộc hệ Thiết Lặc – bao gồm Hồi Hột, Bạt Dã Cổ, và mười một bộ lạc khác – đều đến quy phục nhà Đường. Sang năm Trinh Quán thứ 21, theo thỉnh cầu của các thủ lĩnh, nhà Đường mở một con đường có tên là “Tham Thiên Khả Hãn đạo”, nằm giữa Hồi Hột ở phía nam và Đột Quyết ở phía bắc, thiết lập sáu mươi tám trạm dịch để phục vụ việc ăn ở của sứ giả qua lại. Thế lực của nhà Đường từ đó đã vươn tới toàn bộ vùng Mạc Bắc rộng lớn.

Sự thống nhất và hòa hợp giữa các dân tộc đã thúc đẩy giao lưu văn hóa mạnh mẽ. Vì ngưỡng mộ văn hóa Trung Nguyên, nhiều vương tử và con cháu các thủ lĩnh bộ tộc đều sang Đại Đường để học tập, cũng tương tự như khái niệm “du học” thời nay. Trong trường Quốc học quy mô đồ sộ của nhà Đường, số lượng học sinh lên tới hơn tám nghìn người, trong đó có không ít con em các dân tộc vùng Tây Vực, Thổ Phồn, Bột Hải, và nhiều vùng khác.

Vào năm Trinh Quán thứ 8, Đường Cao Tổ Lý Uyên tổ chức một buổi yến tiệc, trong đó ông mời Hiệt Lợi Khả Hãn của Đông Đột Quyết múa, rồi lại để Phùng Trí Đới ngâm thơ. Khi đó, Phùng Trí Đới là một vị thủ lĩnh của Nam Việt – tức là vùng Việt Nam ngày nay. Đường Cao Tổ cười nói: “Hồ và Việt cùng một nhà, xưa nay chưa từng có.”

Bên cạnh việc sử dụng sức mạnh quân sự để đối phó với các thế lực thù địch, Đường Thái Tông còn áp dụng chính sách hòa thân, nhằm giữ vững sự ổn định ở biên cương. Trong số đó, cuộc hòa thân giữa nhà Đường và Thổ Phồn là nổi tiếng nhất.

Thổ Phồn chính là vùng Tây Tạng ngày nay, khi ấy, Thổ Phồn là một quốc gia vô cùng hùng mạnh. Vào thời Tùy – Đường, nơi đây có nhiều bộ lạc và những tiểu quốc rời rạc. Về sau, Tùng Tán Cán Bố đã dẫn quân chinh chiến, thống nhất toàn cõi Tây Tạng rộng lớn. Tùng Tán Cán Bố đã mở rộng lãnh thổ của nước Thổ Phồn, định đô tại Lhasa, thiết lập nền tảng chế độ chính trị, kinh tế và pháp luật của quốc gia này.

Năm Trinh Quán thứ tám (tức năm 634), Tùng Tán Cán Bố cử sứ giả sang triều Đường, đề nghị được cưới một vị công chúa của Đại Đường, nhưng bị Đường Thái Tông từ chối. Khi sứ giả Thổ Phồn quay về, ông ta tâu với Tùng Tán Cán Bố rằng Đại Đường từ chối hôn sự là do quốc vương Thổ Dục Hồn gây cản trở.

Vì thế, vào năm Trinh Quán thứ 12 (tức năm 638), Tùng Tán Cán Bố dẫn quân đánh bại Thổ Dục Hồn, Đảng Hạng và Bạch Lan Khương, rồi tiến thẳng đến Tùng Châu (nay thuộc Tùng Phan – Tứ Xuyên). Đại quân của Tùng Tán Cán Bố mạnh mẽ, tiến công với thế như chẻ tre, bởi vì họ là đội quân từng thống nhất toàn cõi Tây Tạng.

Tùng Tán Cán Bố tuyên bố rằng nếu Đại Đường không chấp thuận hòa thuận thì ông sẽ dẫn đại quân tiến đánh. Phía đại Đường cũng phái quân chống cự, hai bên giao chiến ác liệt. Cuối cùng, Thổ Phồn bị đánh bại.

Tùng Tán Cán Bố biết rằng không thể thắng được đại quân nhà Đường, nên đã ra lệnh rút quân, ông phái sứ giả sang tạ tội và lại xin được cầu hôn. Tùng Tán Cán Bố tiếp tục phái tể tướng Lộc Đông Tán mang năm nghìn lượng vàng cùng với một lượng lớn châu báu để làm sính lễ chính thức. Đường Thái Tông đã gả Văn Thành Công Chúa cho Tùng Tán Cán Bố. Khi công chúa được gả sang Thổ Phồn, bà đã đem theo rất nhiều thư tịch từ Trung Nguyên, giúp thúc đẩy giao lưu văn hóa mạnh mẽ giữa hai nước.

Tùng Tán Cán Bố có tất cả hai vị hoàng hậu đều là công chúa, một là Văn Thành Công chúa của Đại Đường, còn vị kia là Xích Tôn Công chúa của Nepal. Chính hai vị công chúa này đã đưa Phật giáo truyền vào Tây Tạng. Đại Chiêu Tự, Tiểu Chiêu Tự và cung điện Potala ở Lhasa hiện nay đều có liên quan tới hai vị công chúa này.

Văn Thành Công chúa tiến vào Thổ Phồn vào năm Trinh Quán thứ mười lăm. Khi ấy, lễ bộ thượng thư Giang Hạ Vương Lý Đạo Tông đã hộ tống bà lên đường. Văn Thành Công chúa đã mang theo vàng bạc, lụa là, châu báu, và còn đem tới kỹ thuật nông nghiệp tiên tiến của Trung Nguyên, cùng với những sản phẩm thủ công tinh xảo. Bà đã mang theo giống cải dầu, giống tằm, cùng nhiều loại dược liệu và điển tịch, lại dẫn theo một đội ngũ đông đảo thợ thủ công và nhạc công. Pho tượng Thích Ca Mâu Ni cao bằng người thật, hiện đang được thờ trong Đại Chiêu Tự, chính là do Văn Thành Công chúa mang đến.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Tùy Đường thịnh thế

Từ Hiên Viên Hoàng Đế 2 lần đi tìm Quảng Thành Tử cầu Đạo, Khổng Tử hướng đến Lão Tử học Đạo, rồi đến Phật giáo từ Ấn Độ truyền nhập về phương Đông; Nho, Phật, Đạo đã đặt định ra văn hóa trọng Đức hành Thiện, tin vào nhân quả ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>