Tập 98: Lý Tĩnh – Bậc đại tướng văn võ toàn tài của nhà Đường

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 27/02/2026

Lý Tĩnh là một nhân vật mang đậm màu sắc truyền kỳ. Trong tiểu thuyết “Cầu Nhiêm Khách Truyện” kể rằng: khi Lý Tĩnh đến bái kiến Dương Tố, ông có phong thái đường hoàng, khí vũ khác người. Thế là một nữ nhân trong phủ Dương Tố đã đem lòng cảm mến, nàng là Hồng Phất Nữ. Đêm hôm ấy, Hồng Phất Nữ lén tìm đến Lý Tĩnh, nguyện đi theo ông để cùng gây dựng sự nghiệp.

Khi đó Cầu Nhiêm Khách là người từng nuôi chí tranh đoạt thiên hạ. Nhưng về sau, Cầu Nhiêm Khách nhận thấy Lý Thế Dân mới là người mang thiên mệnh chân chính. Vì vậy, Cầu Nhiêm Khách đã đem toàn bộ gia sản giao cho Lý Tĩnh và Hồng Phất Nữ, khuyên họ hãy hết lòng phò tá Lý Thế Dân. Từ đó, Lý Tĩnh – Cầu Nhiêm Khách – Hồng Phất Nữ được gọi là “Phong trần tam hiệp”.

Lý Tĩnh là một trong hai mươi bốn công thần tại Lăng Yên Các. Ông là một nhà quân sự mưu lược đại tài, và cũng là một lý luận gia quân sự xuất sắc. Lý Tĩnh có tướng mạo phi phàm, từ nhỏ đã nổi tiếng là người có văn võ song toàn, lại rất có chí tiến thủ. Cậu ruột của Lý Tĩnh chính là danh tướng Hàn Cầm Hổ của đại Tùy. Mỗi lần đàm luận binh pháp với Lý Tĩnh, Hàn Cầm Hổ đều vỗ tay tán thưởng, rồi xoa vai ông mà nói: “Người có thể cùng ta bàn về binh pháp Tôn – Ngô, chỉ có mình cháu thôi”. Binh pháp Tôn Ngô chính là binh pháp của Tôn Vũ và Ngô Khởi, họ là hai nhà quân sự nổi tiếng thời Xuân Thu Chiến Quốc.

Ngay cả nhà quân sự gia của Đại Tùy là Dương Tố khi nhìn thấy Lý Tĩnh thì cũng phải thốt lên cảm khái: “Rồi sẽ có ngày ngươi ngồi vào vị trí như của ta!”

Đến cuối thời Tùy, khi Lý Uyên giữ chức Lưu thủ Thái Nguyên, ông đã bí mật chiêu mộ binh mã để chuẩn bị khởi binh. Lý Tĩnh đã phát giác được việc này, nên đã cải trang thành tù nhân, định đến Giang Đô để mật báo cho Tùy Dạng Đế. Nhưng vì đường sá bị phong tỏa nên không đi được. Không lâu sau đó, Lý Uyên bắt được Lý Tĩnh và chuẩn bị xử trảm.

Lý Tĩnh chí lớn chưa thành, ngay trước khi bị hành hình, ông lớn tiếng nói rằng: “Ngài dựng nghĩa binh vốn là vì thiên hạ, để trừ loạn cứu dân. Cớ sao không lo hoàn thành đại nghiệp, mà lại vì tư oán mà chém kẻ tráng sĩ?”

Lý Uyên nghe vậy thì khâm phục phong độ và lời lẽ của Lý Tĩnh, còn Lý Thế Dân thì càng tán thưởng tài trí và dũng khí của ông. Nhờ đó, Lý Tĩnh được tha mạng và trở thành một thuộc hạ thân tín của Lý Thế Dân.

Tháng Giêng năm Vũ Đức thứ 4 (tức năm công nguyên 621), khi Tần vương Lý Thế Dân đang dồn toàn lực tấn công Vương Thế Sung và Đậu Kiến Đức, thì Lý Tĩnh không đi theo chiến dịch ấy, mà đưa tầm nhìn về phương Nam.

Lúc bấy giờ, ở Giang Nam cũng có một tập đoàn quân sự lớn, thủ lĩnh tên là Tiêu Tiển. Địa bàn của Tiêu Tiển rất rộng: gồm cả khu vực Hồ Nam, Hồ Bắc, Quảng Đông, Quảng Tây, Giang Tây, và một phần lãnh thổ của khu vực phía bắc Việt Nam ngày nay. Tuy nhiên, Tiêu Tiển không biết dùng người, lại có tính đa nghi, tầm nhìn hạn hẹp, nên không thể trở thành mối đe dọa thực sự đối với nhà Đường.

Lý Tĩnh quan sát thời cuộc, ông đã dâng lên mười sách lược để đánh dẹp Tiêu Tiển. Đường Cao Tổ hết sức coi trọng, đến tháng 2 thì bổ nhiệm Lý Tĩnh làm Hành quân tổng quản, với chiếu dụ: “Phó thác ba quân, chỉ một mình Lý Tĩnh lãnh trách nhiệm”.

Chức hành quân tổng quản thời Đường khác với chức đại tướng quân khi trước. Lý Tĩnh giữ chức vụ hành quân tổng quản, tức là ông được toàn quyền chỉ huy đại quân, ông chính là thủ lĩnh tối cao trong chiến dịch ấy. Nhưng khi chiến dịch kết thúc, Lý Tĩnh sẽ lập tức phải trao trả binh quyền. Vậy nên, chức Hành quân tổng quản có quyền lực tương tự như đại tướng quân, nhưng không nắm binh quyền lâu, để tránh hình thành nhóm quân phiệt cát cứ.

Khi Lý Tĩnh được phong chức Hành quân tổng quản, ông lập tức huy động nhân lực và vật tư để đóng chiến thuyền, huấn luyện thủy quân, chuẩn bị đánh xuống Giang Lăng. Đến tháng Chín, Đường Cao Tổ ban chiếu trưng binh khắp vùng đất Ba Thục, tập kết tại Quỳ Châu (nay thuộc huyện Phụng Tiết, Tứ Xuyên), đại quân tiến về phía Đông. Ngoài ra, còn có ba đạo quân khác cùng phối hợp, hội binh rồi đánh thẳng vào Giang Lăng (nay là huyện Giang Lăng, phía đông nam thành phố Kinh Châu, tỉnh Hồ Bắc).

Khi ấy đúng vào mùa thu mưa nhiều, nước sông dâng cao, dòng Trường Giang chảy qua Tam Hiệp cuồn cuộn gào thét. Quân Đường xuất phát từ Tứ Xuyên, tức là thượng nguồn của Tam Hiệp. Khi ấy, Tam Hiệp rất nguy hiểm, nước sông chảy siết, đặc biệt là khu vực Cù Đường hiệp, nơi đây đầy rẫy đá ngầm, chỉ cần thuyền sơ suất va phải thì lập tức sẽ vỡ nát như cám.

Tiêu Tiển cho rằng nước sông chảy dữ dội, đường qua Tam Hiệp hiểm trở, quân sĩ nhà Đường chắc chắn sẽ không thể xuống phía Đông, nên Tiêu Tiển cho binh sĩ nghỉ ngơi, không hề phòng bị.

Lý Tĩnh đã đoán đúng tâm lý ấy, ông cho rằng chính lúc địch không phòng bị mới là thời cơ tốt nhất để ra quân. Lý Tĩnh hạ lệnh cho thủy quân tiến xuống hạ lưu, dẫn hơn hai nghìn chiến thuyền vượt qua Tam Hiệp, xông thẳng vào sóng dữ mà xuôi dòng.

Bởi vì Tiêu Tiển hoàn toàn không đề phòng, quân Đường đã liên tiếp đánh hạ Kinh Môn (phía bắc Kinh Châu) và chiếm được Nghi Đô (nay thuộc Nghi Xương, Hồ Bắc), rồi tiếp tục thừa thắng xông lên. Đến tháng Mười, quân Đường đã áp sát thành Di Lăng.

Sau đó, Lý Tĩnh quan sát thấy quân đội của tướng Văn Sĩ Hoằng có kỷ luật bại hoại, đội quân này thường tản ra để cướp bóc bốn phía, khiến đội ngũ hỗn loạn. Lý Tĩnh nắm đúng thời điểm quân địch rối ren, ông chỉ huy quân Đường xuất chiến. Văn Sĩ Hoằng bị đánh tan tác như hoa rụng, số quân tử trận và bị đuối nước lên đến gần một vạn người. Lý Tĩnh chiếm được hơn bốn trăm chiến thuyền.

Ngay sau đó, Lý Tĩnh tiếp tục dẫn năm nghìn kỵ binh nhẹ làm tiên phong, thẳng tiến Giang Lăng, nhằm đột kích bất ngờ. Tại đây, ông đánh bại dũng tướng tinh nhuệ của Tiêu Tiển, hạ được ngoại thành Giang Lăng, rồi chiếm luôn bến của thủy quân, thu về được một lượng lớn thuyền chiến. Lý Tĩnh ra lệnh thả toàn bộ chiến thuyền vừa thu được cho trôi theo dòng nước, để mặc chúng xuôi xuống hạ lưu. 

Khi ấy, các tướng lĩnh đều thấy khó hiểu: chiến thuyền vừa đoạt được, hoàn toàn có thể dùng làm quân dụng, cớ sao lại bỏ đi?

Lý Tĩnh giải thích rằng: “Địa bàn của Tiêu Tiển trải dài: phía Nam thông xuống Lĩnh Ngoại, phía Đông cách hồ Động Đình. Nay ta đơn quân tiến sâu, nếu công thành không được, viện binh các nơi sẽ kéo đến, ta sẽ bị đánh cả trước lẫn sau. Vậy giữ lại số thuyền này thì có ích gì?

Giờ ta thả thuyền xuôi dòng. Khi viện quân nhìn thấy thuyền bị bỏ trôi đầy sông, ắt sẽ tưởng rằng Giang Lăng đã thất thủ, sẽ không dám mạo muội tiến vào, họ sẽ phải dò xét qua lại. Như vậy ít nhất sẽ khiến chúng chậm trễ từ mười ngày đến một tháng – đủ cho quân ta đánh hạ thành Giang Lăng.”

Quả nhiên, kế nghi binh của Lý Tĩnh đã phát huy hiệu quả. Viện binh của Tiêu Tiển ở hạ lưu Trường Giang trông thấy thuyền bị bỏ trôi khắp sông, họ đều cho rằng Giang Lăng đã thất thủ, không dám tiến lên.

Lúc này, Thứ sử Giao Châu là Khâu Hòa và Trưởng sử Cao Sĩ Liêm đang trên đường đến Giang Lăng để yết kiến Tiêu Tiển. Khi nghe tin Tiêu Tiển bại trận, họ lập tức tìm đến doanh trại quân Đường và đầu hàng.

Khi này, quân Đường bao vây Giang Lăng rất chặt, kín đến mức con kiến cũng khó lọt. Tiêu Tiển thấy vòng ngoài bị bao vây rất siết, không có viện binh, mà trong thành cũng khó có thể cầm cự, đường sống đã tuyệt. Cuối cùng, Tiêu Tiển buộc phải mở cổng thành đầu hàng.

Lý Tĩnh dẫn đại quân vào thành, quân kỷ nghiêm minh, không hề xâm phạm hay cướp bóc dân chúng. Vì vậy, các đội quân Nam Lương dọc Trường Giang và Hán Thủy đều rúng động mà xin hàng. Vài ngày sau khi Tiêu Tiển đầu hàng, hơn mấy chục vạn viện binh mới lần lượt kéo đến. Khi nghe tin chủ lực đã bại, lại biết nhà Đường thi hành chính sách khoan hậu, họ đều từ bỏ khí giới, không đánh mà hàng.

Lý Tĩnh chỉ trong hai tháng xuất quân mà đã tiêu diệt được thế lực cát cứ lớn nhất ở Giang Nam, lập nên đại công hiển hách. Đường Cao Tổ ban chiếu phong ông làm Thượng trụ quốc, và giao trọng trách quản lý các châu ở Lĩnh Nam.

Đến tháng Mười Một, Lý Tĩnh tiến quân đến Quế Lâm, các nơi vừa nghe tin ông đến đều rúng động mà quy phục. Chỉ trong một chiến dịch, Lý Tĩnh đã thu phục được 96 châu, tiếp nhận hơn 60 vạn hộ dân.

Lý Tĩnh dụng binh như thần, chiến công hiển hách, về sau lại có công bình định Đông Đột Quyết và Thổ Cốc Hồn, công lao rực rỡ ở cả văn lẫn võ. Lý Tĩnh ra trận thì làm tướng quân, về triều thì làm trọng thần, ngang với chức tể tướng. Đường Thái Tông từng đặt Lý Tĩnh ngang với Từ Thế Tích, hoàng đế khen rằng: hai người này, ngay cả Bạch Khởi, Vệ Thanh hay Hoắc Khứ Bệnh thời xưa cũng khó bề sánh kịp.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Tùy Đường thịnh thế

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>