Giới tử thư: Tâm thư dạy con của Gia Cát Lượng – Nghìn năm sau vẫn còn nguyên giá trị

Biên tập: Cổ Nguyệt | Cập nhật: 17/06/2024
Danh mục: Cảm Ngộ, Gia đình

Gia Cát Lượng (181-234), tự Khổng Minh (hiệu Ngọa Long tiên sinh), được mệnh danh là bậc kỳ nhân tài khuynh thiên hạ của nhà Thục Hán thời Tam Quốc. Ông không chỉ nổi tiếng với tài năng quân sự lỗi lạc, trí tuệ siêu phàm, đạo đức thanh cao, mà còn được biết đến như một người thầy người cha đầy trách nhiệm. 

Điều đó được thể hiện qua bức thư nổi tiếng ông gửi cho con trai Gia Cát Chiêm mà mọi người của biết bao thế hệ thường nghe nói đến với tên gọi “Giới Tử Thư” – nghĩa là “Thư răn dạy con”. 

Dù chỉ 86 chữ rất ngắn gọn nhưng nó chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa triết lý sống vô cùng sâu sắc. 

Nội dung của “Giới Tử Thư”

giới tử thư của Gia Cát Lượng (tiếng Trung)

Hán Việt:

Giới tử thư (tiếng Việt)

 Dịch nghĩa:

“Hành động của người quân tử là giữ tĩnh lặng để tu thân, cần kiệm để dung dưỡng đức độ. 

Không đạm bạc thì không thể có chí sáng, không yên tĩnh thì không vươn được xa. 

Học thì phải cần yên tĩnh, muốn có tài năng thì phải học; 

Không học thì không biết rộng, không có chí thì việc học không thành. 

Ham muốn hưởng lạc thì không có ý chí phấn đấu, nóng vội, hấp tấp thì không tu dưỡng được tiết tháo. 

Thời gian mang tuổi tác qua, ý chí cùng ngày tháng trôi đi, rồi cũng trở nên khô héo, không còn giúp gì được cho đời;

Rồi buồn tủi nơi lều nát, sao còn khôi phục lại kịp cái chí hướng được nữa!”

Hoàn cảnh Gia Cát lượng viết “Giới Tử Thư”

Năm Gia Cát Lượng 36 tuổi thì có con trai đầu lòng là Gia Cát Chiêm (tự Tử Viễn). 

Khoảng năm 225 khi đang ở huyện Vũ Công, ông  đã viết thư cho anh trai là Gia Cát Cẩn và có nhận xét về Tử Viễn như sau:

“Chiêm nay đã tám tuổi, thông tuệ khả ái, hiềm là sớm chín chắn, sợ rằng chẳng có chí khí lớn” (1)

Dù là một kỳ tài quân sự, trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, văn thao võ lược, tinh thông mọi thứ; nhưng đồng thời qua lời tâm sự trong thư của ông, ta có thể cảm nhận rõ nỗi lòng của một người cha – cũng như bao bậc phụ mẫu khác trong thiên hạ luôn trăn trở cho tương lai của con mình.

Vốn dĩ Gia Cát Chiêm tính tình hàm hậu, am tường thư hoạ, lại biết nhiều nhớ lâu, quả thật là nhân tài. Nhưng lúc này cậu đang chỉ là một đứa trẻ 8 tuổi nên vẫn còn cần rèn luyện thật tốt để có thể đạt được tiềm năng về tài năng thao lược như cha của mình. Và đây cũng là những điều Khổng Minh tiên sinh nhắn nhủ riêng cho con, đúng 1 năm trước khi ông qua đời. 

Gia Cát Lượng

Vậy có thể hiểu hàm nghĩa chân chính đằng sau như thế nào? Người viết xin mạn phép lý giải theo 4 chữ xuyên suốt cả bức thư như dưới đây.

Thứ nhất: Chữ “Tĩnh”

“Ninh tĩnh trí viễn” (寧静致遠) có nghĩa tâm thái bình lặng, không bị tạp niệm, mới có thể xác định và thực hiện được những mục tiêu cao xa. 

Đây là một thành ngữ ở Trung Quốc, xuất hiện đầu tiên vào những năm đầu nhà Tây Hán trong sách Hoài Nam tử – Chủ thuật huấn của Hoài Nam Vương Lưu An. Sau này khi được Gia Cát Khổng Minh đưa vào Giới Tử Thư, lại càng trở thành kinh điển.

Chỉ khi nào trong đầu không có tạp niệm, tâm vô sở cầu thì nhận thức và chí hướng mới rõ ràng hơn, kiên định hơn. Tâm tĩnh thì tuệ sinh, lấy bất biến ứng vạn biến, càng không bị nhân tâm hay danh lợi trói buộc, không bị phồn hoa níu kéo, con người ta mới thấu hiểu được bản thân mình và làm nên đại sự.

Vì vậy, điều cốt lõi đầu tiên của một bậc quân tử chính là phải tu dưỡng cho mình một nội tâm an tĩnh.

Khi đã đạt đến trạng thái tâm tĩnh như đầm sâu nước chết, đó đích thực là một loại năng lực của bậc cao nhân, vừa có thể ẩn mình rất sâu vừa có thể lớn mạnh một cách mạnh mẽ.

Trong bộ sử ký Tam Quốc Chí, chúng ta đều biết sự tính Gia Cát Lượng sử dụng “Không Thành Kế”, đã đẩy lui 15 vạn hùng binh của Tư Mã Ý ở Tây Thành.

Trước trận thế đông như hồng thủy của kẻ địch, ông cho mở toang 4 cổng thành, cử khoảng 20 quân lính giả trang thành dân thường quét dọn đường phố trước cửa thành, còn bản thân thì mang theo thư đồng bày hương án trên mặt thành, để gảy khúc cổ cầm ưa thích của mình là “Lương Phủ Ngâm” (2). 

Một nghệ nhân thực thụ luôn phải đạt yêu cầu trước tiên là tâm phải tĩnh, thì mới gảy lên được âm điệu tinh túy của cổ cầm. Nhưng mà, “Lương Phủ Ngâm” mà Gia Cát Lượng gảy hôm đó, vốn dĩ xuất phát là một khúc táng ca, để bày tỏ sự cảm khái của người quân tử trước kẻ sĩ vô tội bị tử trận.

Mặc dù Tư Mã Ý biết đó là mưu kế của Khổng Minh, nhưng lại có cảm giác hư hư thực thực, và đối với một kỳ phùng địch thủ có tâm thái như vậy, thống soái quân Ngụy không thể không cân nhắc. Tất cả yếu tố này đã khiến cho nội tâm quân Ngụy dao động, trúng kế và rút lui. 

Thứ 2: Chữ “Kiệm”

Tại sao cần kiệm lại có thể dung dưỡng đức độ?

Lối sống cần kiệm đạm bạc nhằm mục đích để tu thân dưỡng đức, và để có được sự tĩnh lặng thực sự từ trong tâm, như nước mặt hồ. Mặt nước càng tĩnh lặng, càng phản chiếu rõ vạn vật trên đời, tâm càng tĩnh thì càng nhìn rõ được nhân sinh.

Nếu không, các chủng dục vọng, các thú vui hưởng lạc cùng những ồn ào nơi thế tục dễ làm người ta đắm chìm trong đó mà đánh mất chính mình. Có thể chịu được những cái khổ mà người khác không chịu được, thì mới làm được những việc người khác không làm được. 

Thực tế, các bậc vĩ nhân luôn sống một cuộc sống giản dị nhất có thể, càng không coi đó là sự khổ cực hay nghèo nàn, mà là trong tâm biết đủ. 

Ngay bản thân Gia Cát Lượng cũng là một tấm gương điển hình cho điều này. Trước khi bước ra làm quan để phò tá Lưu Bị, ông sống ẩn cư trong túp lều cỏ ở Nam Dương, là một nông phu làm bạn với núi rừng, tĩnh lặng quan sát thế sự, cho đến khi cảm phục trước sự nhân nghĩa của Lưu Bị sau 3 lần đến lều cỏ thì ông mới rời đi.

Thứ 3: Chữ  “Chí”(3)

Ý chí là khả năng kiên định vào một sự việc, bảo trì nhiệt huyết, không nao núng không bỏ cuộc. Trong quá trình giữ vững ý chí, sẽ có thống khổ, sẽ muốn bỏ cuộc, sẽ thấy mệt mỏi, sẽ có đủ loại ý nghĩ khiến ta không thể tiếp tục kiên trì. Nếu như có thể kiên trì không từ bỏ, thì cho dù kết quả có như thế nào đi nữa, chỉ riêng loại tinh thần này đã là rất khó có được và thật là đáng quý rồi.

Trong hoàn cảnh thuận lợi, ý chí rất dễ yếu đi, vì vô số cám dỗ sẽ làm ta lóa mắt, chơi một chút, nghỉ một chút, lãng phí thời gian một chút, cứ vậy dần theo năm tháng ý chí cũng hao mòn; trong nghịch cảnh, ý chí cũng dễ yếu đi, vì trong cảnh tồi tệ, mỗi từng giây đều là thống khổ, từ bỏ thôi, để vậy được rồi, thời thời khắc khắc khiến con người ta ruột gan rối bời, cảm thấy khó mà sống dày vò, cứ như vậy trong thống khổ mà bỏ mặc không màng gì nữa.

Hai chữ “kiên trì” viết thì dễ nhưng làm được thì quá khó. Trong cuộc sống, nếu có thể bảo trì được ý chí mạnh mẽ, không chùn bước, kiên định nội tâm, không bị phù hoa dẫn động, không bị thất vọng làm nản lòng, kiên trì trước sau như một thì quả thực là vô cùng đáng quý.

Thành công trông thấy được sẽ luôn thôi thúc người ta tiếp tục nỗ lực, khiến người ta có nghị lực phấn đấu. Còn những việc không thấy kết quả kia, thử hỏi thế gian có mấy ai làm được kiên trì năm này qua năm khác, vĩnh viễn bảo trì nhiệt huyết thuở ban đầu? Người mang theo ý chí ấy, hỏi có việc gì không thể thành công?

Kiên trì trong tầm thường, kiên trì trong vô vị, kiên trì trong chế nhạo, kiên trì trong trấn áp, kiên trì trong bức hại, ý chí này đủ để chấn động lòng người trong thiên hạ. Chỉ riêng sự kiên trì này cũng đã đủ khiến người ta khâm phục không thôi.

Thứ 4: Chữ “Học”

Gia Cát Lượng cũng khuyên rằng việc học tập và rèn luyện bản thân là rất quan trọng để phát triển tài năng. Ông cho rằng không nỗ lực học tập thì không thể phát triển tài trí, đồng thời cũng khuyến khích con tránh xa những thú vui thấp hèn và tập trung vào việc trau dồi kiến thức, bồi dưỡng phẩm hạnh và đức độ.

Theo sử liệu thì lúc sinh thời, ông vốn luôn học hành rất chăm chỉ, đặc biệt chú tâm đọc hiểu thật kỹ những phần cốt yếu, tinh hoa trong sách. Khi học yêu cầu yên tĩnh, chuyên tâm, và tập trung vào trọng điểm để từ cái bề rộng của cả cuốn sách mà nắm bắt được cái căn bản nhất. Bởi vì trọng tâm của việc học là xác định mục tiêu học rõ ràng, nỗ lực không ngừng phát triển lên tầm cao hơn.

Ngạn ngữ cổ của tiếng Hán cũng có câu rằng: “Thư sơn hữu lộ cần vi kính – Học hải vô nhai khổ tác chu”, tạm dịch là “Núi sách chỉ có một con đường đi lên bằng sự chuyên cần – biển học vô bờ lấy sự khổ luyện làm con thuyền đi tới đích”. Sự học là một quá trình khổ luyện bền bỉ, cần cù mà theo như Gia Cát tiên sinh thì là để “tu dưỡng…có tài năng…biết rộng…giúp ích cho đời”. Cả cuộc đời của vị quân sư tài ba “xuất quỷ nhập thần” là minh chứng rõ nhất cho kết quả của sự học xuất sắc của ông.

Lại nhìn thêm một chút ở góc độ khác nữa của mục đích học tập mà Gia Cát Lượng nêu trên. Nó đâu có giống với mấy thuyết tư tưởng của người hiện đại là học tập là để có cuộc sống tốt hơn, có nhiều tiền hơn và địa vị xã hội cao hơn, hoặc là trong xã hội vì danh vì lợi mà trở thành kẻ mạnh nơi người thường, hoặc không ngừng bồi đắp bản thân để được người khác ngưỡng mộ, tôn trọng?

Văn hóa truyền thống Trung Quốc là văn hóa nửa Thần nửa nhân, chữ Học bao gồm hàm nghĩa tu thân nhiều hơn, từ đó mà giác ngộ Đạo. Trước khi đồng ý xuống núi phò tá Lưu Bị, có thể nói ông đã đạt đến cảnh giới như lời Lão Tử miêu tả trong «Đạo Đức Kinh»: “Không ra khỏi nhà, cũng biết thiên hạ” (“Bất xuất hộ, tri thiên hạ”).

Ông nói với Lưu Bị trong «Hậu xuất sư biểu» rằng: “Thần cúc cung tận tụy xin dốc lòng đến chết mới thôi. Đến như thành bại, được mất chẳng phải do cái tài giỏi của thần có thể xoay ngược lại vậy”. Ông biết rõ giang sơn nhà Hán khí số đã hết, dù là ai cũng không thể có sức thay đổi kết cuộc theo ý trời.

Mặc dù đã biết rõ, nhưng ông vẫn xuất sơn giúp Lưu Bị, không phải vì công danh lợi lộc hay rạng rỡ tổ tông mà là vì thuận theo ý trời sắp đặt, đi để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Vào thời cổ đại, đạo đức con người tương đối cao, những người không màng danh lợi thì đâu đâu cũng có, việc học đối với họ mà nói chủ yếu là để trau dồi phẩm đức và hành vi đạo đức cao thượng, khiêm tốn kính Thần thuận Thiên ý. Đó mới thực sự là một sự thăng hoa của sinh mệnh qua sự học khổ luyện, một loại trí huệ!

Lời Kết

Gần hai nghìn năm đã trôi qua, những lời khuyên này không chỉ dành cho con trai của ông mà còn là di sản văn hóa và nguồn cảm hứng có giá trị phổ quát cho mọi người, mọi thời đại. Chúng ta có thể học hỏi từ triết lý sống của Gia Cát Lượng để áp dụng vào cuộc sống hàng ngày, từ việc nuôi dạy con cái đến việc tự cải thiện và phát triển cá nhân.

Những bài học này giúp chúng ta không chỉ trở thành người tốt hơn mà còn góp phần xây dựng một xã hội mạnh mẽ, bền vững khi các giá trị truyền thống từ cổ nhân truyền lại được coi trọng để dưỡng nhân dưỡng tâm với nội hàm sâu hơn rộng hơn.

Hãy cùng nhìn lại mục đích đúng đắn của việc học tập, đi vào thực chất, xuất phát từ căn bản và trở lại với tinh hoa truyền thống. Chứ không phải kiểu học mà được gọi bằng thuật ngữ “bệnh thành tích” như người hiện nay vẫn nói.

Tư liệu:

https://vi.wikipedia.org/wiki/Gia_C%C3%A1t_Chi%C3%AAm
https://cocamphuongbac.com/khuc-nhac-co-cam-cua-gia-cat-luong-duoi-15-van-dai-quan-tu-ma-y/
https://chanhkien.org/

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Cảm Ngộ, Gia đình

Gần đây hai chữ “tu luyện” được sử dụng nhiều trong cuộc sống hằng ngày, dường như chỉ trải qua một chút nỗ lực và mài dũa, liền có thể đạt được mục tiêu nào đó trong cuộc sống. Thực ra, hai chữ “tu luyện” này là câu trả lời cho ...

Bài viết liên quan:

  • {"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
    >