Tập 103: Hồ Thuyên mắng chửi Tần Cối, Nhạc Phi tỏ rõ mối lo

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 11/06/2026

Chính quyền Ngụy Tề của Lưu Dự được người Kim dựng lên, sau nhiều lần giao chiến với Nam Tống đều liên tiếp thất bại, cuối cùng Ngụy Tề đã trở thành gánh nặng nghiêm trọng đối với nước Kim.

Đến tháng 11 năm Thiệu Hưng thứ 7, tức năm 1137, triều đình nhà Kim phế bỏ chính quyền Ngụy Tề, rồi trực tiếp tiếp quản đất đai vùng Trung Nguyên và Quan Trung. Từ đó, nước Kim lại một lần nữa kề cận biên giới với Nam Tống. Thế nhưng, ngay vào lúc hai bên vừa đối diện nhau, nước Kim lại đột nhiên chủ trương hòa đàm, hơn nữa còn tuyên bố sẽ trả lại vùng Hà Nam và Thiểm Tây cho Nam Tống.

Khi nước Kim phế bỏ chính quyền Ngụy Tề, thì trong năm 1137, sứ giả của Nam Tống là Vương Luân đã trở về Lâm An. Ông bẩm báo với Tống Cao Tông rằng người Kim có ý muốn hòa đàm, chuẩn bị trao trả hài cốt của Ninh Đức Hoàng hậu — bà là hoàng hậu của Tống Huy Tông, đồng thời cũng trả lại đất Hà Nam. Tống Cao Tông nghe tin thì vô cùng mừng rỡ, liền một lần nữa phái Vương Luân sang nước Kim để thương nghị về các điều khoản cụ thể.

Kim Hy Tông cũng triệu tập quần thần bàn bạc. Trong triều đình nước Kim lúc ấy cũng có phái chủ chiến và phái chủ hòa. Hai bên tranh luận một hồi, cuối cùng phái chủ hòa chiếm thế thượng phong. Có lẽ nước Kim cũng đã nghĩ thông suốt một điều rằng: họ vốn không có hứng thú trực tiếp chiếm giữ vùng Hà Nam, vì trước kia đã đem vùng đất ấy giao cho Lưu Dự, vậy thì chi bằng trả lại cho Nam Tống là xong, miễn sao có thể duy trì hòa bình là được.

Vì vậy, đến tháng 5 năm Thiệu Hưng thứ 8, tức năm 1138, Vương Luân dẫn theo sứ thần nước Kim cùng đến Nam Tống. Khi ấy, Tần Cối đối đãi với sứ giả người Kim vô cùng nhiệt tình. Nhưng có rất nhiều đại thần Nam Tống lên tiếng phản đối, trong đó có Trương Tuấn, Triệu Đỉnh và nhiều người khác. Nhưng rồi tất cả đều bị Tần Cối cưỡng ép đè xuống. Không những thế, Tần Cối còn đề bạt một kẻ phụ họa theo mình là Tôn Cận lên giữ chức Tham tri chính sự, tương đương như phó tể tướng.

Sứ giả hai nước qua lại không ngừng, bàn bạc từng điều khoản chi tiết. Đúng vào lúc ấy, có một đại thần tên là Hồ Thuyên, người giữ chức Biên tu ở Xu mật viện, ông đã dâng lên một bản thượng sớ với lời lẽ vô cùng thống thiết và quyết liệt, thẳng thừng mắng chửi Tần Cối, Vương Luân và Tôn Cận.

Trong bản sớ, Hồ Thuyên đã chỉ thẳng ra rằng: “Vương Luân vốn là hạng vô lại nơi phố chợ, là một kẻ tiểu nhân gian tà. Hắn dẫn sứ thần của bọn Hồ lỗ đến nước ta, chẳng khác nào coi triều đình Đại Tống như hàng thần thiếp, coi chúng ta chẳng khác gì Lưu Dự. Lưu Dự trước kia từng quỳ gối đầu hàng nước Kim, tưởng rằng ngôi vị hoàng đế của hắn có thể truyền lại cho con cháu muôn đời. Nhưng một khi nước Kim trở mặt, thì cả hai cha con đều bị phế truất”.

Trong sớ còn viết: “Thiên hạ này là thiên hạ của tổ tông, ngôi vị mà bệ hạ đang ngự, cũng là ngôi vị của tổ tông. Cơ nghiệp giang sơn này là do Thái Tổ, Thái Tông hoàng đế truyền lại. Sao có thể đem thiên hạ của tổ tông biến thành thiên hạ của giặc Kim, đem ngôi vị tôn nghiêm hạ xuống thành địa vị phiên thần dưới tay Kim quốc? Một khi bệ hạ quỳ gối đầu hàng, thì tông miếu xã tắc của tổ tiên đều phải chịu nhục. Trăm họ trong thiên hạ, cùng sĩ nhân đọc sách khắp bốn phương, cũng đều sẽ bị biến thành dân man di mọi rợ”.

Những lời phía sau có mang sắc thái kỳ thị chủng tộc khá rõ rệt. Hồ Thuyên nói rằng: “Trẻ nhỏ vốn vô tri vô thức, nếu bắt nó quỳ lạy heo chó, nó còn biết thẹn quá hóa giận. Vậy mà bọn Hồ lỗ nước Kim còn không bằng cả heo chó, chúng ta đường đường là một đại quốc, lại hết người này đến người khác đi quỳ bái trước bọn Hồ lỗ. Chuyện như thế, lẽ nào bệ hạ cũng nỡ lòng làm hay sao? Năm xưa, khi bệ hạ phải chạy ra ngoài biển, thế nước nguy cấp như trứng chồng, tình thế hiểm nghèo đến cực điểm, vậy mà khi ấy vẫn không cúi đầu xưng thần với nước Kim. Huống hồ hiện nay quốc lực đã dần chấn hưng, các tướng quân đều dũng mãnh, binh sĩ một lòng muốn anh dũng giết giặc. Những cuộc xâm lăng của Lưu Dự và nước Kim đều liên tiếp bị quân ta đánh bại, thế cục đang thuận lợi như vậy, thế mà nay lại vô duyên vô cớ cúi đầu xưng thần với họ. Nếu muốn khiến bậc thiên tử tôn quý vạn thừa như bệ hạ phải quỳ lạy dưới lều vòm của người Kim, thì chưa cần giao chiến, sĩ khí của ba quân cũng đã tự suy kiệt rồi”.

Hồ Thuyên nói tiếp: “Vương Luân chẳng qua chỉ là một tên lừa đảo. Hắn nói rằng chỉ cần chúng ta chịu khuất gối bái lạy một lần, thì có thể nghênh đón Huy Tông, Khâm Tông cùng Thái hậu trở về, lại còn có thể thu hồi đất đai Trung Nguyên. Tất cả những kẻ chủ trương hòa nghị đều dùng cùng một bộ lời lẽ hoa mỹ ấy để mê hoặc lòng người, nhưng cho đến nay, chưa từng có điều nào trở thành sự thật. Bọn Hồ lỗ nước Kim vốn đã gian trá, mà Vương Luân lại lấy gian tà giúp kẻ ác làm điều bạo ngược. Ta có thể đoán chắc rằng: nước Kim tuyệt đối sẽ không trả Huy Tông, Khâm Tông và Thái hậu về cho chúng ta, cũng sẽ không giao trả đất Trung Nguyên cho Đại Tống. Nhưng một khi đầu gối của bệ hạ đã khuất xuống, thì sẽ không thể duỗi thẳng trở lại; một khi quốc thế đã suy đồi, thì sẽ khó lòng chấn hưng như trước. Nghĩ đến đây, thật khiến người ta đau đớn đến mức phải khóc ròng, ngửa mặt than dài!”

Tiếp đó, Hồ Thuyên chĩa thẳng mũi nhọn vào Tần Cối, ông nói rằng: “Vương Luân chẳng qua chỉ là một con rối, kẻ đứng sau giật dây hắn chính là Tần Cối, đây mới chính là mối họa thật sự của quốc gia. Tần Cối không thể phò tá quân vương trở thành bậc thánh quân như Nghiêu Thuấn, mà trái lại còn muốn biến bệ hạ thành Thạch Kính Đường của nhà Hậu Tấn. Lại còn Tôn Cận kia nữa. Chỉ vì nịnh bợ Tần Cối mà hắn được trao chức Tham tri chính sự, tức là phó tể tướng. Nhưng hắn chẳng qua chỉ là cái bóng biết đáp lời của Tần Cối mà thôi. Tần Cối nói: ‘Có thể giảng hòa với nước Kim’, thì Tôn Cận lập tức hùa theo rằng: ‘Có thể’. Tần Cối nói: ‘Thiên tử nên bái lạy bọn Hồ lỗ’, thì Tôn Cận cũng lập tức phụ họa rằng: ‘Nên bái lạy’. Thần từng đến Chính sự đường, nhiều lần chất vấn hắn. Nhưng hắn đều không trả lời, chỉ nói rằng: “Đã giao cho Đài gián và Thị tùng bàn luận”. Ô hô! Một vị phó tể tướng của quốc gia, lẽ nào chỉ ngồi ở đó, ăn không ngồi rồi, chẳng làm được việc gì hay sao? Nếu nước Kim xuất binh mã xâm lược, chẳng lẽ chúng ta còn có thể trông cậy vào Tôn Cận ra mặt chống giặc, ngăn nhục cho triều đình được hay sao? Theo thần, Tần Cối và Tôn Cận đều đáng bị xử tử”.

Cuối cùng, Hồ Thuyên nói: “Thần tuy chỉ là một thuộc quan trong Xu mật viện, nhưng theo đại nghĩa, quyết không thể đội trời chung với bọn Tần Cối. Tấm lòng nhỏ bé của thần chỉ mong được chém đầu ba kẻ ấy, treo lên cột cờ ở Cảo Nhai — nơi sứ thần ngoại bang cư trú — để thị chúng. Sau đó, hãy bắt giữ sứ thần của giặc Kim, trách tội chúng vô lễ, rồi từ từ dấy lên đạo quân vấn tội. Như vậy, tướng sĩ ba quân chưa cần giao chiến, sĩ khí tự nhiên đã tăng lên gấp bội. Nếu không thể làm như thế, thần chỉ còn cách gieo mình xuống Đông Hải mà chết. Há có thể cam tâm sống tạm trong một tiểu triều đình hèn yếu để cầu lấy sinh mạng hay sao!”

Bản sớ ấy viết thật thống khoái, lời lẽ mạnh mẽ như nước lũ cuồn cuộn, khí phách tràn đầy, chẳng bao lâu sau đã truyền khắp thiên hạ. Tần Cối nghe được thì nổi trận lôi đình, lập tức giáng chức Hồ Thuyên, đày ông đến Quảng Châu.

Tháng 8 năm ấy, Nhạc Phi về kinh thành để yết kiến Tống Cao Tông. Hoàng đế bảo Nhạc Phi đi gặp Thái tử, cũng chính là Tống Hiếu Tông sau này. Sau khi gặp Thái tử, Nhạc Phi vô cùng vui mừng, ông buột miệng nói: “Xã tắc đã có người rồi! Cơ nghiệp trung hưng, e rằng chính là ở nơi người này chăng?”

Thực ra, lời ấy vốn không nên nói ra. Bởi vì nói như vậy chẳng khác nào ngầm chỉ rằng: dưới thời Cao Tông, Đại Tống khó có thể hoàn thành đại nghiệp trung hưng; phải đợi đến thời Thái tử sau này mới có thể làm được. Dù đó là lời thật, nhưng nếu Tống Cao Tông nghe được, liệu trong lòng có thể vui được hay không đây?

Đúng vào lúc ấy, sứ thần nước Kim lại đến để bàn về chuyện trả lại đất Hà Nam. Thái độ của Nhạc Phi vô cùng rõ ràng, ông nói: “Không thể tin người Kim, cũng không thể trông cậy việc hòa hảo với họ. Tể tướng Tần Cối vì quốc gia nhưng mưu tính chưa đủ sâu xa, e rằng sau này sẽ bị hậu thế chê cười”. Chỉ một câu nói ấy, Nhạc Phi đã lập tức chọc giận Tần Cối.

Đến năm Thiệu Hưng thứ 9, tức năm 1139, nước Kim đồng ý trao trả vùng Hà Nam cho Nam Tống. Vì việc ấy, Tống Cao Tông ban chiếu đại xá thiên hạ, đồng thời phong thưởng cho các văn thần võ tướng. Trong đó, Nhạc Phi được phong chức Khai phủ nghi đồng tam ty.

Thế nhưng Nhạc Phi kiên quyết từ chối, ông nói: “Việc hôm nay chỉ có thể xem là nguy, không thể xem là an; chỉ đáng lo, không đáng mừng. Lúc này nên huấn luyện binh sĩ, chỉnh đốn quân ngũ, cẩn thận đề phòng biến cố bất ngờ, chứ không nên bàn việc ban thưởng, để rồi trở thành trò cười cho kẻ địch.”

Tống Cao Tông đã ba lần viết chiếu phong thưởng, thế nhưng Nhạc Phi đều không chịu tiếp nhận. Về sau, hoàng đế phải dùng lời lẽ ôn hòa, đích thân thương lượng khuyên nhủ, Nhạc Phi mới miễn cưỡng tiếp nhận.

Sau đó, Tống Cao Tông chuẩn bị phái người đến Biện Lương để quét dọn lăng mộ các đời tổ tông của Bắc Tống. Nhạc Phi xin được cùng đi, mục đích là để thăm dò động tĩnh của nước Kim, nhân đó cảnh báo cho Tống Cao Tông rằng nhất định phải đề phòng. Thế nhưng Tần Cối biết Nhạc Phi muốn đi tảo mộ, liền lập tức tâu với Cao Tông rằng: tuyệt đối không thể để Nhạc Phi rời đi.

Việc nước Kim muốn ký kết hòa ước với Nam Tống, thì ngoài những nguyên nhân bên ngoài, còn có căn nguyên sâu xa từ nội bộ của triều đình người Kim.

Ở đây, chúng ta cần tạm thời quay ngược thời gian lại một chút, nhìn vào những biến hóa của nước Kim sau khi Kim Thái Tông Hoàn Nhan Ngô Khất Mãi lên ngôi. Sau khi nước Kim diệt nước Liêu và diệt Bắc Tống, họ lần lượt thu nhận một số quan đại thần đầu hàng. Lãnh thổ nước Kim bành trướng quá nhanh, nên buộc phải trọng dụng những người từng có kinh nghiệm quản lý vùng đất khi trước. Mà nước Liêu từ lâu đã Hán hóa rất sâu, cho nên những người Hán từng đầu hàng Liêu, rồi sau đó quy thuận nước Kim, phần nhiều cũng đều là những người từng đỗ tiến sĩ, hoặc từng làm đến chức quan tể tướng. Họ đều là những người rất giỏi.

Ví như Thời Lập Ái, Lưu Ngạn Tông, Hàn Xí Tiên, đều từng làm đến chức Đồng trung thư môn hạ bình chương sự – dưới thời Kim Thái Tông, tương đương với chức tể tướng.

Về sau, Bắc Tống còn có một người tên là Vũ Văn Hư Trung. Ông vốn là sứ thần ngoại giao do Nam Tống phái sang, nhưng bởi người này rất tài năng, nên rồi đã bị nước Kim giữ lại. Chính những người này đã tham gia thiết kế lại chế độ chính trị và kinh tế cho nước Kim, dựng nên một phiên bản mô phỏng quan chế của triều Hán. Về sau, nước Kim còn mở khoa cử, tuyển chọn nhân tài giống như Trung Hoa.

Đồng thời, nước Kim cũng thiết lập sáu kinh thành. Hội Ninh phủ được đặt làm Thượng Kinh, tức khu A Thành của Cáp Nhĩ Tân ngày nay. Thượng Kinh Lâm Hoàng phủ của nước Liêu được đổi thành Bắc Kinh của nước Kim. Đại Định phủ vẫn là Trung Kinh. Đại Đồng phủ là Tây Kinh. Liêu Dương phủ là Đông Kinh. Còn Yên Kinh được đổi thành Đại Hưng phủ, cũng gọi là Nam Kinh. Từ đó, trung tâm chính trị của nước Kim bắt đầu từng bước dời xuống phía nam. Sau thời Kim Hy Tông, trung tâm ấy được định tại Yên Kinh, còn gọi là Trung Đô. Ngày nay, phía nam đường Phục Hưng Môn Nội đại nhai ở Bắc Kinh chính là vị trí tường thành phía bắc của Kim Trung Đô năm xưa.

Nước Kim thiết lập nhiều kinh thành như vậy, đây là điều rất đáng chú ý. Bởi lẽ các dân tộc du mục vốn không lập kinh đô, cũng không xây dựng thành thị cố định, bởi họ sống trên vùng thảo nguyên, nay đây mai đó, theo đàn gia súc mà di chuyển. Nhưng một khi một quốc gia bắt đầu dựng kinh thành, lập đô thị, thì trên thực tế quốc gia ấy đã bước vào quỹ đạo của nền văn minh nông nghiệp. Và sự giao lưu văn hóa giữa hai nước đã làm tăng thêm sự thấu hiểu giữa các dân tộc, đồng thời làm giảm bớt xung đột và địch ý.

Vào thời điểm ấy, ngay trong nội bộ nước Kim, những người đang nắm quyền cũng bắt đầu xuất hiện sự phân hóa. Một phái chủ hòa, họ muốn ngừng binh, dừng chiến tranh, ký kết hòa ước với nhà Tống, phái này do Hoàn Nhan Thát Lãn đứng đầu. Phái còn lại là phe chủ chiến, lấy Kim Ngột Truật làm đại biểu. Đến khi Kim Hy Tông lên ngôi, mâu thuẫn giữa hai phe ấy không còn ẩn dưới mặt nước nữa, mà đã công khai bộc phát nơi triều đình.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Lưỡng Tống phồn hoa.

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>