Tập 108: Nhạc Phi qua đời | Danh còn vang nghìn thu

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 13/06/2026

Cái chết của hai cha con Nhạc Phi và Nhạc Vân là vụ án oan lớn nhất của Nam Tống, đây còn là một bi kịch của cả dân tộc. Từ đó về sau, không còn ai có thể đại phá quân Kim, thẳng tiến đánh vào Hoàng Long phủ như chí nguyện thuở nào. Nhưng khí tiết trung liệt mà Nhạc Phi để lại vẫn sống mã nghìn năm, chấn động cổ kim. Tám trăm năm sau, trước Nhạc Vương miếu, cây tùng xanh biếc vẫn đứng nghiêm trang, khách viếng thăm qua lại không dứt. Người đời vẫn một lòng kính ngưỡng, tưởng nhớ vị anh hùng ấy. Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng mở lại “Tống sử – Nhạc Phi truyện”, nơi còn ghi chép rất nhiều câu chuyện cảm động về Nhạc Phi.

Nhạc Phi phụng dưỡng mẹ vô cùng hiếu thuận. Khi mẫu thân còn ở Hà Bắc, ông đã đón mẹ về nơi mình đang nhậm chức. Mỗi khi mẫu thân lâm bệnh, trước lúc dâng thuốc, Nhạc Phi đều tự mình nếm trước, lại thử xem thuốc nóng lạnh có vừa hay không. Đến khi mẹ qua đời, ông đau buồn đến mức suốt ba ngày không ăn không uống.

Nhạc Phi là người vì việc công mà quên lòng riêng, trong nhà không nuôi tỳ thiếp hầu hạ. Khi ấy, tướng trấn thủ Tiên Nhân quan là Ngô Giới đã vô cùng khâm phục Nhạc Phi, muốn kết giao với ông, Ngô Giới bèn tìm một mỹ nữ, cho trang điểm thật xinh đẹp rồi đưa đến tặng Nhạc Phi.

Nhưng Nhạc Phi nói: “Hoàng thượng đang ngày đêm lo việc nước, lẽ nào đại tướng có thể hưởng lạc hay sao?” Nói rồi, Nhạc Phi trả mỹ nữ ấy lại cho Ngô Giới. Vì thế, Ngô Giới càng thêm kính phục Nhạc Phi.

Tống Cao Tông từng muốn xây cho Nhạc Phi một tòa biệt phủ lớn. Nhạc Phi thưa rằng: “Giặc chưa diệt, lấy nhà làm gì?” Câu ấy rất giống lời của Hoắc Khứ Bệnh từng nói: “Hung Nô chưa diệt, chưa thể nghĩ đến việc làm nhà”. Tống Cao Tông lại hỏi Nhạc Phi rằng: “Khi nào thiên hạ mới có thể thái bình?” Nhạc Phi đáp: “Văn thần không ham tiền, võ tướng không sợ chết, thiên hạ tự sẽ thái bình”.

Tuy rằng Nhạc Phi dụng binh như thần, nhưng ông lại vô cùng khiêm nhường. Mỗi khi có quyết sách trọng đại, ông đều triệu tập toàn bộ tướng lĩnh đến để cùng bàn bạc. Phải đến khi mọi khả năng đều được suy xét chu toàn, ông mới ra lệnh hành động. Chính vì thế, Nhạc Phi xuất quân chỉ có thắng mà không có bại. Quân đội của ông kỷ luật nghiêm minh. Dẫu đột nhiên gặp tập kích, lòng quân cũng không hề rối loạn. Bởi vậy, quân địch từng phải than rằng: “Lay núi còn dễ, lay Nhạc gia quân mới khó”.

Không chỉ giỏi dùng binh, Nhạc Phi còn rất biết thương xót sức dân. Mỗi khi hành quân đánh trận, ông tuyệt đối không cho phép quấy nhiễu bách tính. Có binh sĩ chỉ lấy của dân một sợi gai, thì đã lập tức bị xử theo quân pháp. Dù lương thảo có thiếu thốn đến đâu, Nhạc gia quân cũng không cướp lương thực của dân. Bách tính vì thế mà cảm phục, sẵn lòng mở cửa cho quân sĩ vào nhà trú ngụ, nhưng cũng không một binh lính nào thật sự bước vào nhà dân. Dân chúng ca tụng Nhạc gia quân rằng: “Có chết rét cũng không phá nhà dân, có chết đói cũng không hề cướp bóc.”

Mỗi lần điều động quân lương, Nhạc Phi thường chau mày mà nói: “Sức dân vùng Đông Nam đã bị hao tổn quá nặng rồi”. Sau khi dẹp loạn Dương Ma, Nhạc Phi chiêu mộ bách tính trở lại cày cấy, cho quân đội khai khẩn ruộng đất, thực hiện phép đồn điền. Nhờ vậy, mỗi năm có thể tiết kiệm được một nửa số quân lương mà triều đình phải cấp phát.

Nhạc Phi hết mực thương yêu binh sĩ, nhưng trong huấn luyện lại vô cùng nghiêm khắc. Khi quân sĩ lâm bệnh, Nhạc Phi đích thân điều chế thuốc men cho họ. Khi bộ tướng phải chinh chiến nơi xa, Nhạc Phi sai phu nhân đến tận nhà để thăm hỏi, an ủi thân quyến. Đối với thuộc hạ tử trận, Nhạc Phi thương xót khóc than, rồi đứng ra nuôi dưỡng con cái của họ, có khi còn để con trai mình cưới con gái của tướng sĩ đã khuất, để hậu nhân của họ có nơi nương tựa.

Trương Sở từng có ơn tri ngộ với Nhạc Phi. Sau khi Trương Sở qua đời, Nhạc Phi dâng biểu lên triều đình, xin ban quan chức cho con trai của Trương Sở. Mỗi khi triều đình có ban thưởng, Nhạc Phi không giữ lại cho riêng mình dù chỉ một chút, mà đem chia hết cho quân sĩ.

Thế nhưng, nói đến việc huấn luyện thì ông tuyệt đối không làm qua loa. Nhạc Phi thường đích thân dẫn binh sĩ cưỡi ngựa vượt hào, tất cả đều mặc giáp trụ nặng nề. Có một lần, Nhạc Vân khi cưỡi ngựa nhảy qua chiến hào thì chiến mã bị vấp ngã. Nhạc Phi liền nghiêm trị, đánh Nhạc Vân một trận rất nặng. Các bộ tướng nhìn thấy nguyên soái đối với con của mình mà còn nghiêm khắc đến như vậy, họ cũng không dám lơi lỏng, biếng nhác.

Đối với binh sĩ đã như vậy, mà đối với đồng liêu, Nhạc Phi cũng hết sức khiêm nhường. Trong chiến dịch thu phục sáu quận như Tương Dương, Đặng Châu và các vùng lân cận, Lưu Quang Thế đã nhát gan bỏ chạy. Hoàng đế nói rằng như thế không được, nhất định phải đem quân ra đánh. Lưu Quang Thế không còn cách nào khác, đành phải dẫn quân quay trở lại. Nhưng khi ông ta tới tiền tuyến, chiến sự đã kết thúc, bởi Nhạc Phi đã đánh thắng trận rồi, Lưu Quang Thế chẳng làm được việc gì. Thế nhưng Nhạc Phi vẫn dâng tấu lên triều đình, xin ban thưởng trước cho quân đội của Lưu Quang Thế.

Nhạc Phi là bậc toàn tài văn võ. Đến nay vẫn còn lưu lại bút tích của ông, chính là bản chép “Xuất Sư Biểu” của Gia Cát Lượng, nét chữ vô cùng đẹp đẽ, khí phách, khoáng đạt. Nhạc Phi kính trọng hiền tài, dùng lễ đãi kẻ sĩ phu, ông cũng là người đọc thông kinh sử. Khi tham gia những hoạt động tao nhã như ‘nhã ca’ và ‘đầu hồ’, tức những trò chơi và lễ nghi thanh nhã trong giới trí thức thời xưa, dáng vẻ Nhạc Phi rất khiêm cung, cẩn trọng, chẳng khác nào một nho sinh uyên bác. Hiện nay, thơ của Nhạc Phi còn lưu lại có tổng cộng có 18 bài. Trong đó có bài “Mãn Giang Hồng”, cùng với “Tiểu Trùng Sơn”, đều là những danh tác nổi tiếng trong di sản văn chương của ông.

Nhạc Phi không ham danh lợi, chẳng mê nữ sắc, lại có phong thái ôn hòa, nho nhã, nhưng trước những vấn đề thuộc về nguyên tắc trọng yếu, ông tuyệt đối không hề nhân nhượng. Trong “Tống sử” có nói về ông rằng: “Lòng trung phẫn khích liệt, nghị luận giữ lẽ chính, không chịu khuất phục trước người, cuối cùng vì thế mà chuốc lấy tai họa.” Ý là Nhạc Phi không sợ quyền quý, dám thẳng thắn nói ra suy nghĩ trung nghĩa trong lòng; cũng chính vì vậy, cuối cùng ông rước lấy đại họa.

Trong binh pháp Tôn Tử có bàn về đạo làm tướng, Tôn Vũ cho rằng một vị tướng phải có đủ năm phẩm chất: “trí, tín, nhân, dũng, nghiêm”. Nhạc Phi trăm trận trăm thắng, đó là “trí”; thưởng phạt phân minh, đó là “tín”; thương yêu binh sĩ, xót xa sức dân, đó là “nhân”. Khi xung phong phá trận, Nhạc Phi có phong thái oanh liệt mạnh mẽ tựa như Hạng Vũ và khí tượng anh hùng của Đường Thái Tông, đó là “dũng”. Quân đội của ông kỷ luật nghiêm minh, đó là “nghiêm”.

Không chỉ vậy, Nhạc Phi còn rất khiêm nhường, cung kính, không kể công, không tự phụ. Mỗi khi triều đình ban thưởng, ông đều nói: “Đó là vì tướng sĩ hết lòng tận lực, Phi này có công lao gì đâu?” Một vị tướng như vậy, thật ra mấy trăm năm cũng khó gặp được một người.

Cuối “Tống sử – Nhạc Phi truyện”, sử quan có viết một đoạn bình luận như sau: “Luận rằng Từ thời Tây Hán trở về sau, những danh tướng như Hàn, Bành, Giáng, Quán, đời nào cũng không thiếu. Nhưng nếu muốn tìm một người văn võ toàn tài, nhân trí cùng thi triển như Nhạc Phi của triều Tống, thì trong một thời đại liệu có thể thấy được mấy người!?

Sử sách từng ghi rằng Quan Vân Trường thông hiểu học vấn trong ‘Tả thị Xuân Thu, nhưng chưa từng thấy văn chương của ông truyền lại. Khi Nhạc Phi dẫn quân Bắc phạt, đại quân tiến đến Chu Tiên trấn thuộc Biện Lương, triều đình bỗng có chiếu lệnh lui binh, bắt ông rút quân trở về. Nhạc Phi tự mình viết biểu dâng lên để đáp lại chiếu chỉ. Những lời trung nghĩa ấy đều phát xuất từ tận phế phủ, thật có phong thái như Gia Cát Khổng Minh năm xưa. Vậy mà cuối cùng, ông lại chết trong tay Tần Cối.

Nói cho cùng, thế của Nhạc Phi và Tần Cối vốn không thể cùng tồn tại. Nếu Nhạc Phi thành công, thì mối thù với nước Kim có thể báo, nỗi nhục của triều Tống có thể rửa. Còn nếu Tần Cối đắc chí, thì Nhạc Phi chỉ còn con đường chết mà thôi.

Xưa kia, triều Lưu Tống giết Đàn Đạo Tế. Khi Đàn Đạo Tế bị hạ ngục, ông trừng mắt nói: ‘Các ngươi đang tự phá hủy Vạn Lý Trường Thành của chính mình!’ Còn Tống Cao Tông thì đã nhẫn tâm tự vứt bỏ Trung Nguyên, cho nên cũng nhẫn tâm giết hại Nhạc Phi. Than ôi, oan thay! Than ôi, oan thay!”

Sau khi Tống Cao Tông thoái vị, Tống Hiếu Tông đã rửa sạch nỗi oan cho Nhạc Phi. Di cốt của Nhạc Phi được an táng bên bờ Tây Hồ, trên núi Thê Hà lĩnh. Trong đại điện trang nghiêm hùng vĩ của Nhạc Vương miếu, pho tượng Nhạc Phi mặc giáp trụ toàn thân, uy nghiêm ngồi ngay ngắn. Phía trên tượng có treo một tấm biển lớn, khắc bốn chữ do chính tay Nhạc Phi viết: “Hoàn ngã hà sơn”, tức là “Trả lại non sông cho ta”. Chỉ nhìn lên bốn chữ ấy, lòng người đã không khỏi nghiêm cẩn, kính phục.

Đối diện cửa mộ Nhạc Phi, người ta còn đặt bốn pho tượng quỳ đúc bằng sắt trắng, hai tay bị trói quặt ra sau. Đó chính là Tần Cối, Vương thị, Vạn Sĩ Tiết và Trương Tuấn — những kẻ gian thần mang tội với trung lương.

Trên mộ khuyết phía sau các bức tượng quỳ có khắc đôi câu đối rằng: 

“Thanh sơn hữu hạnh mai trung cốt,
bạch thiết vô cô chú nịnh thần”.

Tức là:

“Núi xanh có phúc, được chôn xương trung liệt;
Sắt trắng vô tội, phải đúc tượng gian thần.”

Sau khi Nhạc Phi bị hại, Nam Tống và nước Kim ký kết hòa ước, sử gọi là “Thiệu Hưng hòa nghị”. Nội dung đại thể như sau:

Thứ nhất, Nam Tống phải xưng thần với nước Kim, nước Kim sắc phong quân chủ triều Tống làm hoàng đế. Thứ hai, mỗi năm nước Tống phải nộp cho nước Kim 25 vạn tấm lụa và 25 vạn lượng bạc. Thứ ba, hằng năm vào ngày sinh nhật của hoàng đế nước Kim và ngày Chính đán, tức ngày đầu năm, triều Tống đều phải phái sứ giả sang để chúc mừng. Thứ tư, nước Kim trả lại di cốt của Tống Huy Tông và Ninh Đức hoàng hậu. Thứ năm, hai bên lấy Hoài Hà ở phía đông và Đại Tán Quan ở phía tây, làm ranh giới, từ đó xác định biên cảnh giữa Tống và Kim. Thứ sáu, triều Tống phải cắt nhượng cho nước Kim các vùng đất ở phía đông như Đường Châu (nay thuộc Hoài An), Đặng Châu (thuộc Nam Dương), cùng một nửa Thương Châu (nay thuộc Thương Lạc, Thiểm Tây) và Tần Châu (nay thuộc Thiên Thủy, Cam Túc) ở vùng Thiểm Tây.

Tống Cao Tông còn dâng lên nước Kim một bản biểu chương đầy nhục nhã, trong đó có viết rằng: “Đội ơn tái tạo, lại được cho làm phiên bang; con cháu đời đời, xin cẩn thủ tiết nghĩa của bề tôi”.

Ý của những lời ấy là: Cảm tạ đại ân của các ngài đã tái tạo Nam Tống, cho chúng tôi được làm nước phiên thuộc của các ngài, từ nay con cháu đời đời của chúng tôi đều sẽ phụng sự các ngài như bề tôi phụng sự quân vương.

Phía sau bản biểu, Tống Cao Tông còn nói những lời với ý như: nếu trái với minh ước, thì xin thần minh đoạt lấy tính mạng của ta, diệt quốc gia của ta.

Khi mà Tống Cao Tông nói ra những lời nhục nhã ấy, không biết ông đặt liệt tổ liệt tông của mình ở nơi nào? Lại đặt những tướng lĩnh ái quốc đã vì nước mà chết như Tông Trạch, Nhạc Phi, cùng hàng nghìn hàng vạn tướng sĩ đã đổ máu sa trường vào chốn nào?

Vậy thì, chỉ bằng một tờ hòa ước ấy, liệu triều Tống và nước Kim có thể duy trì hòa bình được hay không? Chúng tôi sẽ kể tiếp với bạn trong tập sau.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Lưỡng Tống phồn hoa.

Có một điều kỳ lạ xảy ra vào ngày 25/04/1999, đến nay vẫn chưa có lời giải đáp. Đó là một tình tiết trong câu chuyện giữa thủ tướng Trung Quốc thời bấy giờ là ông Chu Dung Cơ và 3 học viên Pháp Luân Công đi cùng ông vào bên ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>