Tập 110: Kim Hy Tông bị hành thích – Kim Phế Đế lộng quyền bạo ngược

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 13/06/2026

Sau khi Nhạc Phi qua đời, triều đình Nam Tống ký hiệp ước Thiệu Hưng với nước Kim. Chấp nhận cúi đầu xưng thần và cống nạp hằng năm để đổi lấy sự yên bình. Nam Tống giờ đây chỉ mong cầu sống tạm, an phận trong cảnh yên ổn giả tạo. Giữa khung cảnh ca múa thái bình, triều đình và dân sĩ cứ mê mê tỉnh tỉnh mà sống qua ngày, như thể đã quên mất quốc hận, quên rằng cả non sông phương Bắc vẫn còn đang nằm trong tay dị tộc. Còn ở phương Bắc, vào năm Thiệu Hưng thứ 19, tức năm 1149, tại nước Kim đã xảy ra chính biến: Kim Hi Tông bị sát hại.

“Hòa nghị Thiệu Hưng” là hiệp ước do Kim Hi Tông ký kết. Vị hoàng đế này chịu ảnh hưởng Hán hóa khá sâu. Trong Kim sử có ghi rằng ông rất tôn kính Khổng Tử, rất thích đọc các kinh điển Nho gia như Thượng thư, Luận ngữ, lại đọc cả lịch sử từ thời Ngũ Đại và sử của nước Liêu; có khi đèn sách nối liền ngày đêm, miệt mài không nghỉ.

Năm 1142 cũng chính là năm mà hai nước Tống và Kim ký kết Hòa nghị Thiệu Hưng, hoàng thái tử của Kim Hi Tông lâm bệnh qua đời. Về sau, Kim Hi Tông không lập thêm thái tử mới. Trong số các con trai của Kim Thái Tổ – Hoàn Nhan A Cốt Đả, người lớn tuổi nhất là Hoàn Nhan Tông Cán. Nhưng ông lại không phải con trưởng do chính thất sinh ra, mà chỉ là con trưởng thuộc dòng thứ. Vì vậy, Kim Thái Tông đã truyền ngôi trở lại cho cháu nội thuộc dòng đích trưởng của Thái Tổ, tức là Kim Hi Tông – Hoàn Nhan Hợp Lạt.

Hoàn Nhan Tông Cán cũng có một người con trai, tên Nữ Chân là Hoàn Nhan Địch Cổ Nãi, tên Hán là Hoàn Nhan Lượng. Hoàn Nhan Lượng cho rằng cha mình tuổi tác lớn hơn, địa vị cũng không kém, vì thế bản thân ông ta mới là người có tư cách kế thừa hoàng vị hơn Kim Hi Tông.

Mặc dù Kim Hi Tông rất tôn kính Khổng Tử và thích các kinh điển Nho gia, nhưng ông không thật sự tu dưỡng theo đạo Nho, khó có thể thực hành được đạo nhân nghĩa. Kim Hi Tông có thói nghiện rượu rất nặng. Mỗi khi say rượu, ông ta thường giết người một cách bừa bãi, trong số đó có cả con trai, cả huynh đệ ruột thịt, cùng rất nhiều đại thần trong triều. Dần dần, tính khí của Hi Tông ngày càng hung bạo, tàn nhẫn, khiến lòng người oán hận, bất mãn dâng cao. Ngay cả những người hầu cận trong tẩm điện cũng không còn chịu nổi. Trong số đó có một chức quan gọi là “Tẩm điện tiểu để”, tức là người phụ trách hầu hạ, chăm lo sinh hoạt thường ngày của Kim Hi Tông.

Có một viên quan Tẩm điện họ là Đại, tên là Hưng Quốc, từng bị Kim Hi Tông đánh đập trách phạt. Vì ôm lòng bất mãn với Kim Hi Tông, Đại Hưng Quốc đã bí mật liên hệ với Hoàn Nhan Lượng, cùng nhau mưu tính phát động chính biến.

Kim Hi Tông có hai viên trưởng hộ vệ. Một người tên là Bộc Tán Hốt Thổ, trước kia người này từng chịu ân huệ của Hoàn Nhan Tông Cán, phụ thân của Hoàn Nhan Lượng. Còn một viên trưởng hộ vệ khác tên là Đồ Đan A Lý Xuất Hổ, con trai của người này đã cưới con gái của Hoàn Nhan Lượng làm vợ. Vì có những mối liên hệ ấy, cả hai trưởng hộ vệ này đều ngả về phía Hoàn Nhan Lượng, cùng ông ta bí mật mưu phản.

Đại Hưng Quốc hầu hạ Kim Hi Tông trong tẩm điện. Mỗi đêm, khi trở về nhà, hắn đều lén mang chìa khóa tẩm điện nhét vào trong áo rồi đem ra khỏi cung. Theo quy chế mà nói, việc này tuyệt đối không được phép. Nhưng vì hắn ngày nào cũng làm như vậy, lâu dần mọi người cũng quen mắt, không còn để ý nữa.

Đến ngày Đinh Tỵ, mùng 9 tháng 12 năm 1149, là đúng phiên trực đêm của Bộc Tán Hốt Thổ và Đồ Đan A Lý Xuất Hổ. Khi đó, Đại Hưng Quốc đã dùng chìa khóa hoàng cung để mở toàn bộ các cửa cung, dẫn Hoàn Nhan Lượng cùng đồng đảng tiến thẳng đến tẩm điện của Kim Hi Tông.

Thường ngày, Kim Hi Tông vẫn đặt bội đao trên giường để phòng thân. Nhưng đêm ấy, Đại Hưng Quốc đã sớm lén đem thanh đao giấu xuống dưới giường. Đợi đến khi biến loạn bùng phát, Kim Hi Tông kinh hoàng tìm đao mà không thấy. Trong khoảnh khắc ấy, vị quân vương từng khiến bao người khiếp sợ này, rốt cuộc đã bị thích sát ngay trong chính tẩm điện của mình.

Sau đó, Hoàn Nhan Lượng lên ngôi xưng đế. Trong lịch sử, ông ta được gọi là Kim Phế Đế, cũng gọi là Hải Lăng Vương. Thụy hiệu của ông ta là “Dạng”, cùng chính là chữ “Dạng” trong Tùy Dạng Đế. Xét về tính cách và hành vi, Hoàn Nhan Lượng quả thực rất giống Tùy Dạng Đế khi trước.

Trong Tục Tư trị thông giám, quyển 128, có ghi lời Hoàn Nhan Lượng rằng: “Chí của ta có ba điều: đại sự quốc gia đều phải do ta quyết định, đó là điều thứ nhất; thống lĩnh đại quân chinh phạt, bắt quân trưởng của họ, hỏi tội ngay trước mặt, đó là điều thứ hai; có được tuyệt sắc giai nhân trong thiên hạ, đó là điều thứ ba”. Có thể thấy, chí hướng thứ nhất của Hoàn Nhan Lượng chính là độc tài chuyên chế, chí hướng thứ hai là cùng binh độc vũ, ham mê chiến tranh đến cùng cực, còn chí hướng thứ ba chính là hoang dâm vô độ.

Hoàn Nhan Lượng giết người vô cùng hung tàn, ông ta đã giết sạch huynh đệ của mình, giết cả thân mẫu của mình, lại sát hại hơn 70 người thuộc dòng con cháu Kim Thái Tông, hơn 30 người thuộc dòng con cháu Hoàn Nhan Tông Hàn, cùng hơn 50 người khác trong tông thất. Ngay cả những khai quốc công thần như Tát Ly Hát cũng bị giết, thậm chí những kẻ từng giúp Hoàn Nhan Lượng đoạt ngôi như Đồ Đan A Lý Xuất Hổ, phò mã Đường Quát Biện, rốt cuộc cũng đều bị giết chết.

Ngoài ra, những đại thần, tông thất, ngoại thích, bị sát hại còn nhiều hơn nữa, không thể kể hết từng người. Con người Hoàn Nhan Lượng cực kỳ hoang dâm. Sau khi giết chết những người trong tông thất ấy, ông ta lại đem toàn bộ thê thiếp của họ thu vào hậu cung.

Hoàn Nhan Lượng là kẻ xa hoa phung phí. Ông ta ngưỡng mộ Yên Kinh, vùng đất rộng lớn, dân cư đông đúc, bèn hạ lệnh xây dựng cung thất tại Yên Kinh. Đến năm 1153, Hoàn Nhan Lượng dời đô về Yên Kinh, lấy Yên Kinh làm Trung Đô; phế bỏ Thượng Kinh Lâm Hoàng phủ, đổi Hội Ninh phủ làm Thượng Kinh (nay thuộc khu A Thành, thành phố Cáp Nhĩ Tân); đổi Trung Kinh Đại Định phủ thành Bắc Kinh; còn Tây Kinh Đại Đồng và Đông Kinh Liêu Dương thì giữ nguyên. Hoàn Nhan Lượng đặt Khai Phong làm Nam Kinh, chuẩn bị dời đô đến Biện Lương.

Trong Kim sử có chép rằng, khi Hoàn Nhan Lượng xây dựng cung điện ở Nam Kinh, tức là Biện Lương, chỉ riêng chi phí vận chuyển một cây gỗ đã lên tới 2000 vạn; sức kéo một cỗ xe phải dùng đến 500 người. Cung điện trang sức lộng lẫy, khắp nơi phủ vàng, rồi trang trí năm màu rực rỡ; vụn vàng bay đầy trời như tuyết rơi. Chi phí cho một tòa điện được tính bằng ức vạn, thế mà xây xong rồi lại phá, chỉ cốt làm sao cho thật cùng cực hoa lệ.

Hoàn Nhan Lượng từng bước dời đô xuống phía nam, chính là để chuẩn bị tiêu diệt Tây Hạ và Nam Tống, muốn thống nhất toàn bộ Trung Quốc. Trước khi xuất binh, bộ tộc Khiết Đan đã nổi dậy làm loạn. Hoàn Nhan Lượng lập tức đại khai sát giới, giết hơn 170 người thuộc dòng họ Gia Luật của nước Liêu và cả con cháu họ Triệu.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Lưỡng Tống phồn hoa.

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>