Trong ba kẻ thù lớn của Dã Tốc Cai, người Tháp Tháp Nhi đã hạ độc khiến ông bỏ mạng, bộ Thái Diệc Xích Ô không chỉ ruồng bỏ mẹ con Ha Ngạch Luân, mà còn từng suýt lấy mạng Thiết Mộc Chân, người Miệt Nhi Khất thì cướp đi người vợ của Thiết Mộc Chân là Bột Nhi Thiếp. Với thực lực khi ấy, Thiết Mộc Chân tuyệt nhiên không thể một mình đối kháng với người Miệt Nhi Khất.
Khi Thiết Mộc Chân còn nhỏ, ông có một người huynh đệ kết nghĩa. Trong tiếng Mông Cổ, mối quan hệ ấy gọi là “an đáp”. Người này chính là Trát Mộc Hợp, thủ lĩnh bộ Trát Đáp Lan thuộc Mông Cổ bản bộ.
Ngoài ra, trước kia Dã Tốc Cai cũng có một người “an đáp”, đó là Thoát Oát Lân Hãn, tộc trưởng bộ Khắc Liệt. Thoát Oát Lân Hãn còn được gọi là Vương Hãn, Thiết Mộc Chân tôn ông là “nghĩa phụ”. Về sau, để dễ nhớ, chúng ta sẽ dùng tên Vương Hãn để gọi ông.
Được các thế lực lớn trợ giúp, Thiết Mộc Chân đã phát động cuộc chiến với Miệt Nhi Khất, quyết tâm cứu người vợ yêu dấu. Từ lúc chuẩn bị cho đến khi phát động, toàn bộ cuộc chiến này đã trải qua 9 tháng. Cuối cùng, liên quân ba bộ đã đại phá người Miệt Nhi Khất, và Thiết Mộc Chân đã đoạt lại được Bột Nhi Thiếp.
Không lâu sau đó, Bột Nhi Thiếp sinh hạ người con trai đầu lòng. Nếu sét theo thời gian, đứa trẻ này có thể là con của Thiết Mộc Chân, nhưng cũng có thể là con của người Miệt Nhi Khất. Thiết Mộc Chân đặt tên cho đứa con ấy là Truật Xích, trong tiếng Mông Cổ có nghĩa là “khách nhân”.
Đối với người con này, Thiết Mộc Chân không hề có chút kỳ thị nào. Ông đối đãi với Truật Xích cũng hệt như đối đãi với những người con trai khác. Trong quá trình Thiết Mộc Chân xưng hùng trên thảo nguyên, Truật Xích đã lập được công lao vô cùng lớn. Nhưng bởi huyết thống bị nghi ngờ, nên cuối cùng ngôi vị Đại Hãn của Thiết Mộc Chân đã không truyền lại cho Truật Xích.
Sau trận chiến ấy, tình nghĩa huynh đệ giữa Thiết Mộc Chân và Trát Mộc Hợp càng thêm sâu nặng. Người của hai bộ tộc cùng nhau sinh sống, cùng chăn thả trên thảo nguyên, thường uống rượu bên nhau, thậm chí ngủ chung một giường, thân thiết như huynh đệ ruột thịt.
Nhưng chẳng bao lâu sau, giữa họ lại nảy sinh mâu thuẫn. Trát Mộc Hợp cũng là một người có tài năng và dã tâm. Trong khi đó, thanh vọng của Thiết Mộc Chân ngày một vang xa, sức cảm hóa từ nhân cách của ông lại vô cùng mạnh mẽ. Rất nhiều người đều nguyện ý tìm đến nương nhờ Thiết Mộc Chân, trong đó có cả một số người thuộc bộ Trát Đáp Lan dưới quyền Trát Mộc Hợp. Điều này khiến Trát Mộc Hợp sinh lòng đố kỵ. Vì vậy, Thiết Mộc Chân dẫn bộ chúng của mình rời khỏi Trát Mộc Hợp.
Thiết Mộc Chân đi đến đâu, nơi ấy lại tựa như một khối nam châm giữa thảo nguyên, lặng lẽ hút lòng người, khiến người của các bộ lạc khác lần lượt đến quy phục ông, trong đó cũng bao gồm một số bộ chúng của Trát Mộc Hợp. Năm 1189, các bộ chúng dưới trướng Thiết Mộc Chân cùng suy tôn ông làm Khả Hãn của Mông Cổ bản bộ. Thiết Mộc Chân đem tin mình lên ngôi Khả Hãn truyền báo cho các bộ tộc trên thảo nguyên, trong đó có cả nghĩa phụ Vương Hãn và Trát Mộc Hợp.
Vương Hãn vô cùng vui mừng cho Thiết Mộc Chân, liền gửi lời chúc mừng. Nhưng Trát Mộc Hợp thì lại rất không vui. Bởi xét theo thực lực và uy vọng của ông ta khi ấy, lại thêm việc bản thân cũng thuộc Mông Cổ bản bộ, Trát Mộc Hợp tự cho rằng mình mới có tư cách trở thành Khả Hãn. Huống hồ, Thiết Mộc Chân có được ngày hôm nay, cũng là nhờ kết quả của sự trợ giúp từ Trát Mộc Hợp và Vương Hãn.
Lại còn một việc nữa, mà thật ra trách nhiệm nằm ở phía Trát Mộc Hợp. Em trai của Trát Mộc Hợp là Đãi Sát Nhi từng đến chỗ Thiết Mộc Chân để trộm ngựa, kết quả bị hộ vệ của Thiết Mộc Chân bắn chết. Từ đó, quan hệ giữa Trát Mộc Hợp và Thiết Mộc Chân chính thức rạn nứt, rồi đi đến tan vỡ.
Trát Mộc Hợp tập hợp hơn 3 vạn kỵ binh từ 13 bộ lạc, bao gồm người Tháp Tháp Nhi, bộ Thái Diệc Xích Ô và nhiều bộ lạc khác. Năm 1190, Trát Mộc Hợp phát động một cuộc tấn công nhằm vào Thiết Mộc Chân. Thiết Mộc Chân đem bộ chúng của mình chia thành 13 đội để nghênh chiến. Trong sử sách, trận này được gọi là “thập tam dực chi chiến”. Thiết Mộc Chân thất bại, phải rút lui về bên bờ sông Oát Nan.
Thế nhưng, Trát Mộc Hợp đối đãi với tù binh vô cùng tàn khốc. Tương truyền, ông ta đã dùng 70 chiếc vạc lớn để nấu sống tù binh. Chính sự tàn bạo ấy đã khiến lòng người ly tán, không còn quy phục. Dần dần, rất nhiều bộ lạc quay sang nương nhờ Thiết Mộc Chân. Tuy rằng Thiết Mộc Chân thua trận, nhưng thực lực của ông lại ngày một lớn mạnh.
Sau đó, Thiết Mộc Chân phát động trận chiến tiến đánh người Tháp Tháp Nhi. Bộ Tháp Tháp Nhi vốn quy phục nước Kim, nhưng thủ lĩnh của họ lại đi cướp đoạt tài vật của người Kim, hơn nữa cũng không chịu tạ lỗi. Vì thế, vào năm 1196, Hoàng đế Kim Chương Tông hạ lệnh cho Hữu thừa tướng – Hoàn Nhan Tương xuất binh tiến đánh bộ Tháp Tháp Nhi. Thiết Mộc Chân nghe được tin này, ông liền cùng nghĩa phụ Vương Hãn hợp quân của người Kim để tiến đánh Tháp Tháp Nhi.
Bộ Tháp Tháp Nhi rơi vào thế trước sau thọ địch, cuối cùng thảm bại mà chạy. Nhờ vậy, Kim Chương Tông phong cho Thiết Mộc Chân tước hiệu “Trát Ngột Hốt Lý”, tương đương chức Chiêu thảo sứ. Lúc bấy giờ, Thiết Mộc Chân đã là Đại Hãn của Mông Cổ bản bộ, nên trong lòng cảm thấy chức vị ấy quá nhỏ. Nhưng rốt cuộc, ông vẫn tiếp nhận phong hiệu này.
Ở phía tây của thảo nguyên Mông Cổ, gần vùng núi A Nhĩ Thái, có một bộ tộc hùng mạnh khác gọi là bộ Nãi Man. Bộ Nãi Man từng có mối thù cũ với Vương Hãn. Năm 1199, Thiết Mộc Chân đã giúp nghĩa phụ Vương Hãn đánh bại bộ Nãi Man. Sau đó, hai người liên thủ và tiếp tục chinh phục những bộ lạc khác trên thảo nguyên.
Về phía Trát Mộc Hợp, ông ta không muốn thấy Thiết Mộc Chân và Vương Hãn liên kết với nhau. Ngoài ra,Trát Mộc Hợp cũng ôm chí muốn trở thành thủ lĩnh của các bộ Mông Cổ. Vì vậy, vào năm 1201, Trát Mộc Hợp triệu tập 11 bộ lạc và mở hội nghị, rồi được tôn làm “Cổ Nhi Hãn”. Tôn hiệu “Cổ Nhi Hãn” còn cao hơn cả “Khả Hãn”. Ngay sau đó, Trát Mộc Hợp lại một lần nữa giao chiến với Thiết Mộc Chân. Khi ấy, ngoài 11 bộ lạc do Trát Mộc Hợp thống lĩnh, còn có bộ Thái Diệc Xích Ô và bộ Miệt Nhi Khất, đều là những kẻ từng có thù với Thiết Mộc Chân.
Thiết Mộc Chân cầu viện Vương Hãn, và nhanh chóng chuẩn bị binh lực. Trận quyết chiến diễn ra tại Khoát Diệc Điền. Khi ấy, cuồng phong gào thét, bão tuyết mịt trời, chiến sự vô cùng khốc liệt. Cuối cùng Trát Mộc Hợp thua trận, nhưng điều bất ngờ là ông ta lại đầu hàng Vương Hãn. Chính sự việc này đã gieo xuống hạt mầm ly gián giữa Vương Hãn và Thiết Mộc Chân.
Lúc bấy giờ, trên thảo nguyên có ba thế lực quân sự lớn: Thiết Mộc Chân, Vương Hãn, và thế lực còn lại chính là bộ Nãi Man. Quan hệ giữa Thiết Mộc Chân và Vương Hãn bắt đầu bị Trát Mộc Hợp ly gián. Ngoài ra, còn có một người luôn ôm lòng đố kỵ với Thiết Mộc Chân, đó chính là Tang Côn, con trai của Vương Hãn.
Ban đầu, Thiết Mộc Chân từng muốn kết thông gia với Tang Côn, ông đem con gái của mình gả cho con trai Tang Côn. Nhưng Tang Côn đã thẳng thừng cự tuyệt. Nguyên nhân cụ thể rốt cuộc là gì, chúng ta không thật rõ. Có lẽ trong lòng Tang Côn cũng ôm chí muốn trở thành thủ lĩnh của thảo nguyên.
Cuối cùng, vào năm 1203, dưới sự xúi giục của Tang Côn, Vương Hãn xuất binh tập kích Thiết Mộc Chân. Nhưng Thiết Mộc Chân đã sớm nhận được tin tức. Sau một trận ác chiến, hai bên đều thương vong thảm trọng. Trong khi đó, nội bộ của Vương Hãn lại xảy ra chia rẽ, một số bộ chúng của Vương Hãn đã quay sang quy phục Thiết Mộc Chân. Còn Trát Mộc Hợp thì cho rằng Vương Hãn bất tài, nhất định không thể đánh thắng, nên đã không từ mà biệt, quay sang quy phục bộ Nãi Man.
Thế là Thiết Mộc Chân thừa cơ phát động cuộc phản công trên quy mô lớn. Vương Hãn vội vàng ứng chiến, cuối cùng đại bại, phải chạy về phía tây, tìm đường nương nhờ bộ Nãi Man.
Lính gác của bộ Nãi Man thấy có một người lạ từ bộ tộc khác đi tới, bèn hỏi ông ta là ai. Vương Hãn đáp: “Ta là Thoát Oát Lân Hãn”. Tên lính gác nghe vậy thì cười lớn, nói rằng: “Thoát Oát Lân Hãn hùng mạnh như thế, sao có thể chạy đến chỗ chúng ta? Ngươi nhất định là kẻ mạo danh”. Nói rồi, hắn bắn một mũi tên giết chết Vương Hãn. Tang Côn sau đó cũng bị giết. Từ đó, Thiết Mộc Chân chiếm cứ vùng thảo nguyên phía đông, nơi có nguồn nước dồi dào, cỏ cây tươi tốt — chính là thảo nguyên Hô Luân Bối Nhĩ.
Lúc bấy giờ, trên thảo nguyên chỉ còn lại hai thế lực lớn: Thiết Mộc Chân và bộ Nãi Man. Thủ lĩnh của bộ Nãi Man xưng là Thái Dương Hãn. Khi ấy, lãnh địa của ông ta đã tiếp giáp trực tiếp với thế lực của Thiết Mộc Chân, nên một trận đại chiến sẽ là điều không thể tránh khỏi. Những bộ lạc trước kia từng chống đối Thiết Mộc Chân rồi bị ông đánh bại, nay cũng lần lượt chạy đến nương nhờ bộ Nãi Man, như bộ Miệt Nhi Khất, bộ Khắc Liệt, bộ Trát Đáp Lan và nhiều thế lực khác.
Bởi vậy, đây chính là trận chiến cuối cùng trước khi Thiết Mộc Chân hoàn thành đại nghiệp thống nhất thảo nguyên. Năm 1204, hai bên đóng quân đối trận tại vùng Hàng Ái Sơn, chiến khí ngút trời, đại chiến chuẩn bị nổ ra. Khi này, Thái Dương Hãn tuổi đã cao, thần trí hồ đồ, nhưng con trai của ông là Khuất Xuất Luật lại là một kẻ rất có mưu cơ. Trong Nguyên sử gọi là Cổ Xuất Lỗ Khắc.
Trước khi chiến sự bắt đầu, Thiết Mộc Chân cho đặt đuốc khắp núi đồi đồng nội. Từ xa, người ta thấy thế quân vô cùng hùng tráng, tựa như binh mã đông nghịt tràn khắp thảo nguyên. Trát Mộc Hợp biết quân Nãi Man tuyệt không phải đối thủ của Thiết Mộc Chân, nên một lần nữa bỏ chạy. Bên phía bộ Nãi Man, lòng quân dao động; bên phía Thiết Mộc Chân, sĩ khí dâng cao như cầu vồng vắt ngang trời, thế công cuồn cuộn không gì ngăn nổi. Kết quả là quân Nãi Man bị đánh cho đại bại. Thái Dương Hãn trúng tên mà chết, còn Khuất Xuất Luật thì chạy đến tận nước Tây Liêu.
Trước đây, khi chúng tôi kể về việc nước Kim diệt nước Liêu, thì đã từng nhắc đến một người tên là Gia Luật Đại Thạch, sau khi bại trận thì đã đi xa về hướng Tây Vực. Ở đó, ông lập nên nước Tây Liêu. Sau này, Khuất Xuất Luật đã chạy đến đó, tiếp tục mưu tính đại kế phục quốc.
Còn về Trát Mộc Hợp, trên đường bỏ chạy thì bị thuộc hạ trói lại, rồi đem giao cho Thiết Mộc Chân. Cuối cùng hai người gặp lại nhau, họ cùng uống rượu, vừa khóc vừa cười. Thiết Mộc Chân không muốn giết Trát Mộc Hợp, nhưng chính Trát Mộc Hợp lại thỉnh cầu hãy xử tử mình.
Đến đây, từ năm 1189, khi Thiết Mộc Chân trở thành Đại Hãn của Mông Cổ bản bộ, trải qua 17 năm chinh chiến, cuối cùng ông đã thống nhất toàn bộ thảo nguyên Mông Cổ.

