Trước khi Thành Cát Tư Hãn thống nhất thảo nguyên, bộ lạc cuối cùng bị tiêu diệt là bộ Nãi Man. Vương tử Nãi Man là Khuất Xuất Luật đã chạy sang Tây Liêu. Quốc vương Tây Liêu là Gia Luật Trực Lỗ Cổ đã thương cảm cho cảnh ngộ của Khuất Xuất Luật, nên đã hậu đãi ông ta rất trọng, lại còn gả con gái cho Khuất Xuất Luật. Nào ngờ một phen thiện ý của Gia Luật Trực Lỗ Cổ cuối cùng đã dẫn đến vận số diệt vong của Tây Liêu.
Trong những tập trước, chúng tôi đã từng kể về sự diệt vong của nước Liêu. Khi ấy, Gia Luật Đại Thạch, hậu duệ đời thứ 8 của Gia Luật A Bảo Cơ, vì ôm chí phục quốc nên đã rời quê cũ, đi xa về phía Tây Vực, hy vọng có thể nhận được sự trợ giúp từ các nước từng là thuộc quốc của Liêu.
Bấy giờ, 18 thuộc quốc phái quân hỗ trợ, thế nhưng cộng lại cũng chỉ được khoảng một vạn người. Nhưng lực lượng ấy là quá nhỏ bé, hoàn toàn không thể đối kháng với nước Kim đang lúc hùng mạnh. Vì vậy, Gia Luật Đại Thạch quyết định tiếp tục tiến về phía tây, xin mượn đường của Hồi Cốt vương. Trên đường đi, ông lại nhận được sự ủng hộ của một số quốc gia khác, cùng với lạc đà, dê và ngựa do các nước ấy ban tặng. Nhờ vậy, thế lực của Gia Luật Đại Thạch ngày một lớn mạnh.
Gia Luật Đại Thạch tiếp tục một đường tiến về phía tây. Trên đường đi, ông đã đánh bại rất nhiều bộ lạc Đột Quyết, rồi tiến đến thành Tát Mã Nhĩ Hãn. Nước Seljuk của người Thổ Nhĩ Kỳ đã hợp với các nước Tây Vực để phản công, dẫn 10 vạn quân nghênh chiến, nhưng đã bị Gia Luật Đại Thạch đánh cho đại bại, máu chảy thành sông, thây phơi kéo dài mấy chục dặm.
Gia Luật Đại Thạch đóng quân tại Tát Mã Nhĩ Hãn tron 90 ngày. Sau đó, ông tiếp tục tây tiến, quân lính hành quân đến Khởi Nhi Mạn, tức tỉnh North Khorasan ngày nay, nằm tại vùng giáp giới giữa Iran và Turkmenistan.
Chính tại nơi này, quần thần đồng lòng khuyên ông lên ngôi. Gia Luật Đại Thạch đăng cơ xưng đế, đặt niên hiệu là Diên Khánh. Đến năm Diên Khánh thứ 3, Gia Luật Đại Thạch dẫn quân về phía đông, lập đô thành tại Hổ Tư Oát Nhi Đóa. Vùng đất ấy nay thuộc địa phận Tokmok, Cộng hòa Kyrgyzstan, cũng được gọi là thành Toái Diệp.
Gia Luật Đại Thạch quay về phía đông là để chuẩn bị giao chiến với nước Kim. Ông phái Tiêu Oát Lý Lạt làm Binh mã Đô nguyên soái, thống lĩnh 7 vạn kỵ binh tiến về phía đông. Thế nhưng đại quân đi hơn một vạn dặm mà chẳng thu được gì, trâu ngựa chết rất nhiều, cuối cùng đành phải thu quân trở về. Gia Luật Đại Thạch than rằng: “Xuất sư bất lợi, đó là thiên số vậy!”
Những sự tích của Gia Luật Đại Thạch, bất kể xét về mốc thời gian hay thứ tự trước sau, dù là căn cứ theo bản truyện của ông trong quyển 30 của Liêu sử để suy đoán, thì cũng vẫn tồn tại nhiều điểm mâu thuẫn. Theo cách nói của Liêu sử, Gia Luật Đại Thạch mất vào năm Khang Quốc thứ 10, tức năm 1143, ở ngôi 20 năm, miếu hiệu là Đức Tông. Nhưng nếu căn cứ vào việc ông đã làm sau khi lên ngôi, dùng niên hiệu Diên Khánh trong 3 năm và niên hiệu Khang Quốc trong 10 năm, thì lẽ ra ông chỉ ở ngôi 13 năm.
Tuy vậy, có một điểm mà chúng ta có thể chắc chắn rằng: Gia Luật Đại Thạch đã dựng nên một nước Tây Liêu hùng mạnh tại Trung Á. Bấy giờ, các nước ở hai miền nam bắc Thiên Sơn, kể cả Hoa Lạt Tử Mô, đều là thuộc quốc của Tây Liêu. Gia Luật Đại Thạch cũng đem văn hóa Trung Hoa truyền sang vùng Trung Á.
Sau này, Tây Liêu dần dần suy yếu. Đến khi Thành Cát Tư Hãn tiêu diệt bộ Nãi Man, thì vương tử Khuất Xuất Luật đã chạy sang Tây Liêu. Trong Nguyên sử, Khuất Xuất Luật được phiên âm là Cổ Xuất Lỗ Khắc. Vì tên này hơi giống với tên của hoàng đế Tây Liêu đương thời là Gia Luật Trực Lỗ Cổ, nên ở đây chúng tôi sẽ gọi ông ta là Khuất Xuất Luật.
Khuất Xuất Luật cưới công chúa của Gia Luật Trực Lỗ Cổ. Nhưng rồi ông ta phát hiện ra rằng Trực Lỗ Cổ đã tuổi già lú lẫn, triều chính suy nhược. Hơn nữa, những thuộc quốc cũ ở phía đông Tây Liêu — là người Cáp Lạt Lỗ ở phía bắc Thiên Sơn và người Duy Ngô Nhĩ ở phía nam Thiên Sơn — họ đều đã đầu hàng Mông Cổ. Trong khi đó, thuộc quốc phía tây của Tây Liêu là Hoa Lạt Tử Mô cũng đã thoát ly, tự lập một quốc gia riêng.
Hoa Lạt Tử Mô trực tiếp tiếp giáp với Tây Liêu, chiếm cứ phần lớn lãnh thổ Iran ngày nay. Quốc vương khai quốc của Hoa Lạt Tử Mô là Thiếp Khách Thất, ông vốn là trưởng quan trấn giữ Hoa Lạt Tử Mô do người Thổ Nhĩ Kỳ Seljuk bổ nhiệm. Về sau, ông đã đánh đuổi người Seljuk, tự lập một quốc gia độc lập.
Con trai của Thiếp Khách Thất, trong sử thư Trung Quốc được gọi là Ma Ha Mạt. Đây chính là cách ghi “họ” của ông ta, Ma Ha Mạt thực ra chính là Muhammad. Tên đầy đủ của ông là A Lạt Đinh Muhammad. Ông lên ngôi vào năm 1200, từ đó liên tục nam chinh bắc chiến, mở rộng bờ cõi đến mức vô cùng rộng lớn: phía nam vươn tới biên giới Ấn Độ, phía bắc tới sông Amu, phía tây tới vịnh Ba Tư, và định đô tại Tát Mã Nhĩ Hãn. A Lạt Đinh thấy quốc lực đã cường thịnh, không cần phải tiếp tục thần phục Tây Liêu nữa. Vì vậy, giữa hai bên cũng liên tục nổ ra những cuộc chiến vô cùng kịch liệt.
Khuất Xuất Luật thấy các thuộc quốc của Tây Liêu lần lượt phản bội, ly khai, thì liền nảy sinh dã tâm soán vị, muốn tự làm hoàng đế Tây Liêu. Ông ta bí mật triệu tập lại tàn quân cũ của bộ Nãi Man, rồi liên lạc với quốc vương Hoa Lạt Tử Mô là A Lạt Đinh. Nhân lúc Gia Luật Trực Lỗ Cổ ra ngoài săn bắn, Khuất Xuất Luật đã chi huy 8000 quân, bắt sống Gia Luật Trực Lỗ Cổ, rồi ép ông phải nhường ngôi, tôn ông làm Thái thượng hoàng.
Khuất Xuất Luật và A Lạt Đinh chia nhau quản lý lãnh thổ Tây Liêu. Nhưng chẳng bao lâu sau, Khuất Xuất Luật lại phát sinh mâu thuẫn gay gắt với người bản địa. Nguyên nhân là do Khuất Xuất Luật đã chịu ảnh hưởng của công chúa Tây Liêu, nên đã chuyển tín ngưỡng sang Phật giáo. Sau đó, ông ta cưỡng ép những người Hồi giáo tại địa phương cũng phải đổi sang tín ngưỡng Phật giáo. Việc ấy đã lập tức châm ngòi cho làn sóng phản kháng dữ dội của dân chúng bản địa.
Khi Thành Cát Tư Hãn còn đang giao chiến với nước Kim, ông nghe tin Khuất Xuất Luật chiếm đoạt triều đình Tây Liêu. Không chỉ vậy, Khuất Xuất Luật còn liên lạc với Hốt Đột – trưởng tử của Thoát Hắc Thoát A – thủ lĩnh bộ Miệt Nhi Khất, họ mưu tính rằng sẽ nhân lúc Thành Cát Tư Hãn đông chinh mà khởi binh, khôi phục cố thổ.
Đến năm 1216, Thành Cát Tư Hãn phái ra ba đạo đại quân tiến đánh nước Tây Liêu, với các đại tướng thống lĩnh như Tốc Bất Đài, Triết Biệt, Truật Xích. Trong đó, Tốc Bất Đài phụ trách quét sạch tàn quân của bộ Miệt Nhi Khất, gần như đã giết sạch. Còn Triết Biệt thì giao chiến lớn với Khuất Xuất Luật tại thành Toái Diệp.
Khuất Xuất Luật thua trận thảm bại, phải chạy về phía tây. Triết Biệt lấy khẩu hiệu tự do tín ngưỡng để hiệu triệu lòng người, nhờ đó mà giành được sự ủng hộ của dân chúng bản địa. Cuối cùng, ông truy đuổi kịp và tiêu diệt Khuất Xuất Luật. Từ đó, Mông Cổ chiếm lĩnh nước Tây Liêu, và trực tiếp tiếp giáp với nước Hoa Lạt Tử Mô. Khi ấy là năm 1218.
Thành Cát Tư Hãn biết Hoa Lạt Tử Mô có đất rộng quân mạnh, nên ban đầu ông không hề có ý khai chiến với nước này. Thành Cát Tư Hãn viết một bức thư, bày tỏ hy vọng rằng hai nước có thể hòa thuận chung sống, có thể cho người dân qua lại buôn bán với nhau.
Nhưng trong thư có một câu rằng: “Ta yêu mến quốc quân của quý quốc, cũng như cha yêu quý con vậy.” Ông còn nhắc đến quân sĩ đông đảo, tài vật phong phú của mình. Những lời ấy đều khiến A Lạt Đinh vô cùng không vui vì cho rằng mình bị khinh thường. Nhưng thực tế thì đây chỉ là sự khác biệt văn hóa. Với người Mông Cổ, thì họ dùng lời lẽ hào sảng như vậy để tỏ ý thân thiện, muốn kết minh. Thành Cát Tư Hãn nói đến sản vật phong phú, với ý là hai nước có thể trao đổi buôn bán.
Chẳng bao lâu sau, một nhóm thương nhân Duy Ngô Nhĩ đã thần phục Mông Cổ, họ nhận sự ủy thác của Thành Cát Tư Hãn để đến Hoa Lạt Tử Mô buôn bán, thế nhưng đã bị tướng trấn thủ của Hoa Lạt Tử Mô giết chết, toàn bộ tài vật cũng bị cướp sạch. Nơi xảy ra sự việc ấy bấy giờ gọi là thành Ngoa Đạt Lạt.
Thành Cát Tư Hãn biết tin thì nổi trận lôi đình, ông lập tức phái sứ giả đến để trách hỏi A Lạt Đinh. Kết quả là một người bị giết, hai người bị cạo râu. Đối với người Mông Cổ thì đây là nỗi sỉ nhục tột cùng, một mối nhục khó có thể dung tha. Thành Cát Tư Hãn đại nộ, ông cởi mũ, tháo đai lưng, hướng lên trời mà cầu khấn, thề rằng sẽ quyết báo thù đến cùng.

