Tập 123: Thành Cát Tư Hãn băng hà – Uy danh còn vang trong sử sách

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 19/06/2026

Khi Thành Cát Tư Hãn tiến hành Tây chinh, ông từng yêu cầu Tây Hạ xuất binh trợ chiến. Không ngờ Tây Hạ lại cự tuyệt, khiến Thành Cát Tư Hãn vô cùng không vui, cho rằng sự quy hàng của Tây Hạ là không có thành ý. Trong thời gian đại quân Mông Cổ viễn chinh về phía tây, vốn dĩ đối với Tây Hạ và nước Kim mà nói, đó là một cơ hội hiếm có để nghỉ ngơi, khôi phục nguyên khí. Thế nhưng hai nước lại dấy binh giao chiến, đánh nhau đến mức lưỡng bại câu thương.

Năm 1225, sau khi Thành Cát Tư Hãn trở về Hòa Lâm, ông chỉ nghỉ ngơi chỉnh đốn đôi chút, rồi liền phát động cuộc chiến chinh phạt Tây Hạ. Lần này, Thành Cát Tư Hãn đã hạ quyết tâm phải xóa sổ Tây Hạ khỏi bản đồ. Ông mang theo Oa Khoát Đài và Đà Lôi xuất chinh. Trên đường hành quân, trong lúc săn bắn, Thành Cát Tư Hãn bị ngã ngựa, thân thể bị thương, từ đó sinh bệnh. Nhưng Thành Cát Tư Hãn vốn là người không bao giờ chịu tỏ ra yếu thế, nên dù bệnh tật quấn thân, ông vẫn gắng gượng chống đỡ, tiếp tục chỉ huy chiến sự.

Lúc bấy giờ, quốc lực của Tây Hạ đã như mũi tên bay đến cuối, không còn sức bật trở lại. Quân Mông Cổ liên tiếp thắng trận, thế như chẻ tre. Quốc chủ Tây Hạ là Lý Đức Vượng đã u uất mà qua đời. Cháu của ông là Lý Hiện lên ngôi, sử gọi là Hạ Mạt Đế.

Quân Mông Cổ một đường tiến công, đến năm 1226 thì vây hãm Hưng Khánh phủ, tức Ngân Xuyên, Ninh Hạ ngày nay. Sang mùa hè năm sau, mắt thấy quân địch đã không còn khả năng cố thủ, Thành Cát Tư Hãn bèn để lại quân đội tiếp tục công thành, còn bản thân ông thì đến vùng Lục Bàn Sơn để tránh nóng.

Lúc này, bệnh tình của Thành Cát Tư Hãn ngày càng trầm trọng. Ông biết thời gian của mình không còn nhiều nữa. Vì vậy, ông cho lui hết tả hữu, rồi căn dặn ba việc hậu sự. Việc thứ nhất chính là vấn đề chọn người kế vị.

Thật ra, trước khi tiến hành Tây chinh, Thành Cát Tư Hãn đã sớm quyết định chọn người kế vị. Toàn bộ quá trình này được ghi chép khá tường tận trong thiên “Truật Xích truyện” của Tân Nguyên sử.

Thành Cát Tư Hãn có hơn 500 người vợ. Trong số đó, ngoài đại phi Bột Nhi Thiếp, thì còn có rất nhiều phi tử khác cũng mang danh hiệu hoàng hậu. Sau khi tiêu diệt bộ Tháp Tháp Nhi, ông thu nhận một cặp chị em mỹ nhân: người chị tên là Dã Toại, người em tên là Dã Tốc Can. Trong đó, Dã Toại cũng được phong danh hiệu hoàng hậu.

Trước khi Thành Cát Tư Hãn xuất quân Tây chinh, hoàng hậu Dã Toại từng hỏi rằng: “Nếu chẳng may có điều bất trắc, trong các hoàng tử, người sẽ lập ai làm người kế tự?”

Những lời như vậy, người bình thường tuyệt đối không dám tùy tiện hỏi. Nhưng sau khi nghe xong, Thành Cát Tư Hãn không nổi giận. Dẫu sao, Dã Toại cũng là phi tử được sủng ái nhất.

Thành Cát Tư Hãn cho gọi các con đến để bàn luận việc này.

Như chúng ta đã nói ở phần trước, chính thất của Thành Cát Tư Hãn là Bột Nhi Thiếp, bà từng bị người Miệt Nhi Khất bắt đi. Trên đường trở về, Bột Nhi Thiếp sinh ra Truật Xích. Vậy nên, thân thế của Truật Xích luôn không rõ ràng, người ta cũng không biết ông có thật sự là con ruột của Thành Cát Tư Hãn hay không.

Cũng bởi nguyên do ấy, Truật Xích thường bị các em trai xem nhẹ, trong đó quan hệ giữa ông và Sát Hợp Đài là căng thẳng nhất. Vì vậy, khi Thành Cát Tư Hãn hỏi đến Truật Xích, Truật Xích thoáng do dự, nhất thời không đáp lời.

Lúc ấy, Sát Hợp Đài lên tiếng, nói rằng: “Truật Xích là đứa con lai tạp của người Miệt Nhi Khất, sao có thể kế thừa ngôi vị Đại Hãn!”

Truật Xích nghe vậy thì vô cùng phẫn nộ, ông nói: “Phụ thân từ trước đến nay chưa từng nhìn ta bằng con mắt khác, sao ngươi lại sỉ nhục ta như vậy?” Nói rồi, Truật Xích túm lấy Sát Hợp Đài, hai huynh đệ lập tức lao vào đánh nhau. Cả hai người này đều là võ tướng rất mạnh, không ai dám can.

Bên cạnh có một người nói với Sát Hợp Đài rằng: “Sao ngươi lại không hiểu chuyện đến thế!? Đại Hãn đã nam chinh bắc chiến, đánh hạ được cơ nghiệp rộng lớn như hôm nay, cũng là nhờ mẫu thân của các ngươi lo liệu nội vụ, chỉnh đốn trong ngoài, mới khiến gia đình được yên ổn như vậy. Nay ngươi nói Truật Xích như thế, mẫu thân ngươi sẽ đau lòng biết bao!”

Sát Hợp Đài nghe vậy, ông bất bất giác quay sang nhìn mẫu thân, thấy Bột Nhi Thiếp đang khóc. Hai huynh đệ thấy vậy thì lập tức dừng tay. Sát Hợp Đài biết chuyện này là do mình sai, bèn nói: “Phụ vương, con và đại ca Truật Xích sẽ phụ trách việc chinh phạt. Xin hãy để tam đệ Oa Khoát Đài kế vị.” Truật Xích cũng đồng ý với sự sắp đặt ấy. Vì vậy, Oa Khoát Đài được lập làm người kế thừa của Thành Cát Tư Hãn.

Truật Xích cho rằng mình là con trưởng, vậy mà lại không có cơ hội kế thừa hãn vị. Hơn nữa, đất phong của ông lại ở vị trí xa xôi nhất, nằm ở vùng nước Nga và Ukraina ngày nay, vì thế trong lòng ông u uất, ngày ngày buồn bực không vui.

Trên đường Thành Cát Tư Hãn trở về sau cuộc Tây chinh, ông nhiều lần cho gọi Truật Xích đến để họp bàn, nhưng Truật Xích mãi vẫn không đến. Thành Cát Tư Hãn lại sai Truật Xích đem quân đi đánh một nơi nào đó, Truật Xích lấy cớ thân thể không khỏe nên không đi. Điều này khiến Thành Cát Tư Hãn vô cùng tức giận. Đúng lúc ấy, có một người từ phía nước Nga đi đến. Thành Cát Tư Hãn bèn hỏi ông ta: “Gần đây, ngươi có nhìn thấy đại vương tử không?” Kẻ ấy đáp: “Thần có thấy. Ngài ấy đang đi săn, thân thể rất khỏe mạnh”.

Thành Cát Tư Hãn nghe xong thì nổi trận lôi đình. Ông gọi Sát Hợp Đài và Oa Khoát Đài đến, lệnh cho hai người thống lĩnh binh mã đi bắt Truật Xích. Nhưng ngay khi quân đội còn chưa kịp xuất phát, thì nghe tin cấp báo rằng Truật Xích qua đời. Thành Cát Tư Hãn đau buồn khôn xiết. Ông ra lệnh truy bắt kẻ đã phao tin rằng Truật Xích thân thể khỏe mạnh, nhưng kẻ ấy đã bỏ trốn mất rồi.

Sau đó, Thành Cát Tư Hãn đem vùng đất phong vốn thuộc về Truật Xích ban cho con trưởng của Truật Xích là tức Bạt Đô. Bạt Đô cũng là một danh tướng rất nổi tiếng. Sau này, ông đã lập công lớn trong cuộc viễn chinh châu Âu dưới thời Oa Khoát Đài.

Khi Thành Cát Tư Hãn sắp lâm chung, bên cạnh ông chỉ có Oa Khoát Đài và Đà Lôi. Ông nói với hai người con rằng: “Ta sắp phải rời khỏi nhân thế. Nhờ vào sự trợ giúp của trời cao, ta mới dựng nên được một quốc gia rộng lớn như thế này. Từ trung tâm đế quốc cưỡi ngựa phóng về bốn phương, phải đi suốt một năm mới có thể đến được biên cương. Các con nếu muốn giữ gìn quốc gia dài lâu, thì nhất định phải đồng tâm hiệp lực. Sau khi ta chết, hãy lập Oa Khoát Đài làm chủ. Sát Hợp Đài tuy không có mặt ở đây, nhưng nó sẽ không trái lệnh ta”.

Đây là việc hậu sự thứ nhất mà Thành Cát Tư Hãn căn dặn.

Việc hậu sự thứ hai là liên quan đến Tây Hạ. Lúc bấy giờ, quốc chủ Tây Hạ đã chuẩn bị đầu hàng, đang ở trong nước chỉnh lý tài vật và hộ khẩu. Thành Cát Tư Hãn dặn hai người con rằng, sau khi ông qua đời, trước tiên không được phát tang. Hãy đợi đến khi quốc chủ Tây Hạ đến đầu hàng, thì bắt lấy ông ta rồi giết chết, sau đó mới cử hành tang lễ.

Việc hậu sự thứ ba mà Thành Cát Tư Hãn căn dặn, chính là chiến lược liên hợp với Nam Tống để đánh diệt nước Kim.

Ông nói: “Tinh binh nước Kim đóng ở Đồng Quan, phía nam dựa vào dãy núi liền nhau, phía bắc lấy sông lớn làm giới hạn, khó có thể trong chốc lát mà công phá được. Nên mượn đường nước Tống, mà Kim và Tống vốn là kẻ thù truyền đời, tất sẽ bằng lòng giúp ta. Khi ấy, ta có thể theo đường Đường Châu và Đặng Châu, đánh thẳng vào Đại Lương. Quân Kim dù có rút binh ở Đồng Quan về tự cứu, nhưng vượt ngàn dặm đến cứu viện, người ngựa mỏi mệt, ta tất sẽ phá được chúng.” Dặn dò xong những lời ấy, Thành Cát Tư Hãn băng hà, hưởng thọ 73 tuổi.

Ba ngày sau khi Thành Cát Tư Hãn băng hà, Hạ Mạt Đế – Lý Hiện đến để đầu hàng. Oa Khoát Đài và Đà Lôi tuân theo di chúc của phụ vương, bắt và tiêu diệt Lý Hiện.

Sau đó, quân Mông Cổ bắt đầu rút quân. Tại hành cung ở Tát Lý Xuyên Cáp Lão Đồ, có một gốc cây mọc rất đẹp. Khi Thành Cát Tư Hãn hành quân đi ngang qua, ông từng nói: “Sau này khi ta chết, hãy chôn ta dưới gốc cây này”. Vì vậy, người Mông Cổ đã đưa di thể của Thành Cát Tư Hãn đến dưới gốc cây ấy và mai táng tại đó. Nhưng họ không đắp mộ phần, cũng không dựng bia đá. Sau khi chôn cất xong, họ cho ngựa giẫm lên mặt đất, san phẳng dấu tích ngôi mộ. Bởi thế cho đến ngày nay, không ai biết chính xác lăng mộ của Thành Cát Tư Hãn nằm ở nơi nào. Sau này, khi Hốt Tất Liệt lập nên triều Nguyên, ông đã noi theo truyền thống của người Hán, truy tôn Thành Cát Tư Hãn là Nguyên Thái Tổ.

Cuộc đời của Thành Cát Tư Hãn có thể nói là sóng lớn cuồn cuộn, khí thế ngút trời. Ông thống nhất Mông Cổ, tung hoành khắp nửa châu Á, tiêu diệt 40 quốc gia; đương nhiên, trong chiến tranh cũng đã giết hại vô số sinh linh. Đến đời hậu duệ thứ 4 của ông, con cháu đã có hơn một vạn người. Cho đến ngày nay, một tỉ lệ khá lớn người Mông Cổ vẫn là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn.

Những pháp lệnh do ông ban bố được gọi là Thành Cát Tư Hãn pháp điển, cũng gọi là Đại Trát Tát lệnh. Người khởi thảo bộ pháp điển này là con nuôi của ông, tên là Thất Cát Hốt Đồ Hốt.

Đại Trát Tát lệnh là một trong những bộ pháp điển thành văn có phạm vi áp dụng rộng lớn bậc nhất trong thế giới thời bấy giờ. Tại Đại Mông Cổ quốc, nó có quyền uy tối cao. Thành Cát Tư Hãn còn sáng lập chữ viết Mông Cổ, đồng thời kiến tạo cả một hệ thống chính trị và quân sự. Trong mắt hậu thế, ông là một vị anh hùng võ công hiển hách.

Sau khi Thành Cát Tư Hãn băng hà, Oa Khoát Đài tiếp nhận hãn vị, tiếp tục mở rộng cương thổ. So với Thành Cát Tư Hãn, tuy rằng Oa Khoát Đài chỉ tại vị vỏn vẹn 13 năm, nhưng ông cũng đã viết nên một trang sử kinh thiên động địa.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Lưỡng Tống phồn hoa.

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>