Tập 16: Hoàng Sào tạo phản, thế như chẻ tre, dân chúng lầm than, triều đình suy kiệt

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 16/08/2026

Sau khi Vương Tiên Chi tử trận, tướng dưới quyền là Thượng Nhượng dẫn tàn quân còn lại đến nương nhờ Hoàng Sào, họ tôn lập Hoàng Sào làm vương, hiệu là “Xung Thiên Đại Tướng Quân”, đồng thời thiết lập quan chức, bước đầu dựng nên hình thế chính quyền.

Hoàng Sào dẫn quân tiến đánh Đông Đô nhưng không công hạ được, thế là bèn vượt qua Hoài Thủy và Trường Giang, tiến vào Giang Tây, rồi lại men theo đường biển lên phía bắc để đến Chiết Giang, từ đó đánh vào Phúc Kiến. Thanh thế tuy lớn, nhưng binh lực cũng dần tiêu hao trên những chặng đường trường chinh ấy.

Triều đình thấy thế, quyết định dùng kế “tiễu phủ tịnh dụng” – tức là vừa phái quân đánh dẹp, nhưng cũng đồng thời ra lệnh chiêu an. Hoàng Sào thì hành quân qua chặng đường rất xa, binh mỏi ngựa mệt, lại nhiều lần bại trận dưới tay Trấn Hải tiết độ sứ Cao Biền, nên bắt đầu nảy sinh ý định muốn quy thuận triều đình.

Hoàng Sào xin được phong làm Thiên Bình tiết độ sứ (trị sở tại Vận Thành, Sơn Đông), tức là muốn quay về quê hương để nắm giữ một phương, nhưng triều đình không chấp thuận. Hoàng Sào lại xin được làm Quảng Châu tiết độ sứ, triều đình vẫn không đồng ý. Trong suốt nhiều năm, triều đình nhà Đường đã phải đau đầu về vấn đề các tiết độ sứ trở thành quân phiệt cát cứ, nay Hoàng Sào lại muốn làm tiết độ sứ, sao có thể được. Thế là triều đình chỉ ban cho Hoàng Sào cái chức thống lĩnh thị vệ quân thuộc Đông cung Thái tử, thực chất đây là một chức quan hữu danh vô thực.

Hoàng Sào vì thế mà nổi giận, liền phát binh tiến đánh Quảng Châu, và ngay trong 1 ngày đã công phá thành trì. Lúc ấy là tháng 9 năm 879. Hoàng Sào bắt sống tiết độ sứ Lý Điều, ép Lý Điều thay mình dâng biểu lên triều đình, trình bày ý nguyện mong được phong quan. Thế nhưng Lý Điều khẳng khái nói: “Dù ngươi có chặt đứt cổ tay ta, ta cũng không viết thay ngươi.” Hoàng Sào lập tức giết chết ông.

Đọc đến đoạn này trong sử sách, chúng ta thấy Lý Điều đã nói một câu quả thật là đại nghĩa lẫm liệt. Thế nhưng người ta cũng khó hiểu: vì sao Lý Điều trấn giữ Quảng Châu mà đến 1 ngày cũng không giữ nổi? Nếu không phải là vì mất lòng dân, thì e cũng là vì quá mức câu nệ, không biết uyển chuyển.

Hoàng Sào vốn dĩ muốn được làm tiết độ sứ Quảng Châu, nay y đã chiếm được Quảng Châu, lẽ ra tâm nguyện đã đạt. Nhưng đại họa lại liên tục đến: chỉ hơn 1 tháng đóng quân tại Quảng Châu, trong quân bỗng phát sinh đại ôn dịch, binh sĩ chết hàng loạt, tử vong đến ba bốn phần mười.

Bọn thuộc hạ đều xin Hoàng Sào quay trở lại phương Bắc. Nhân lúc nước lũ dâng cao, Hoàng Sào từ Quế Lâm xuất phát, đại quân xuôi theo dòng Tương Giang, lần lượt công hạ Hành Châu (nay là Hành Dương, Hồ Nam) và Vĩnh Châu. Chỉ trong một ngày đã đánh chiếm được Đàm Châu (nay là Trường Sa). Sau khi chiếm được thành, Hoàng Sào cho đồ sát toàn bộ quân triều đình. Xác chết chất đầy sông Tương, máu chảy róc rách thành dòng, theo con nước cuồn cuộn trôi đi, mùi tanh tưởi bốc lên thật khét, cảnh tượng vô cùng thê thảm.

Hoàng Sào sai Thượng Nhượng từ Tương Giang tiến vào Trường Giang, rồi ngược dòng mà đánh ra Giang Lăng (ở hạ lưu Nghi Xương, thuộc khu vực Kinh Châu), thanh thế quân phản loạn rất lớn, tự xưng là có đến 50 vạn binh mã. Khi đó, quân triều đình trấn giữ Giang Lăng chỉ có chưa đầy một vạn, chủ tướng Vương Đạc kinh hãi đến vỡ mật, liền sai bộ tướng Lưu Hán Hoằng thủ thành, còn Vương Đạc thì dẫn quân bỏ chạy về Tương Dương.

Lưu Hán Hoằng vốn đã bất mãn, ngay khi Vương Đạc vừa rời đi, Lưu Hán Hoằng lập tức phát động binh biến, trong thành Giang Lăng mà tha hồ giết chóc, cướp bóc, lại còn phóng hỏa thiêu đốt, khiến cả tòa thành hóa thành tro tàn. Người dân dắt díu nhau chạy trốn vào khe núi, đúng vào lúc đông giá rét, trời đổ tuyết lớn, khắp núi rừng la liệt xác người, người thì bị giết, người thì chết rét, chết đói, cảnh tượng thê lương không sao kể xiết.

Hơn 10 ngày sau đó, đại quân của Hoàng Sào mới kéo đến, không tốn một mũi tên hòn đạn mà chiếm được Giang Lăng.

Sau đó, Hoàng Sào xuất quân tiến đánh Tương Dương, Tại Kinh Môn, quân tạo phản đã trúng mai phục của Sơn Nam Đông Đạo tiết độ sứ là Lưu Cự Dung. Hoàng Sào đại bại, phải tháo chạy về Giang Lăng, binh lực tổn thất đến bảy, tám phần mười.

Lúc này, nếu Lưu Cự Dung thừa thắng truy kích, Hoàng Sào ắt sẽ bị tiêu diệt. Thế nhưng Lưu Cự Dung không tiếp tục truy kích. Lưu Cự Dung nói: “Quốc gia thường hay phụ lòng người, khi có biến loạn thì vỗ về, giữ lấy tướng sĩ, nhưng không chịu ban quan tước, đến khi yên ổn thì lại bỏ rơi họ, thậm chí có khi còn giáng tội. Chi bằng giữ lại bọn giặc này, để làm vốn liếng cho phú quý của mình”.

Lưu Cự Dung rõ ràng là muốn giữ lại quân phản loạn của Hoàng Sào để làm công cụ mưu cầu lợi riêng, để triều đình trọng dụng ông ta hơn, chẳng màng đến sống chết của sinh linh thiên hạ. Chính vì một niệm tư tâm ấy mà đã để lỡ thời cơ trời ban, buông tha cho đại họa.

Nhờ vậy, Hoàng Sào mới có được cơ hội thở dốc, thế rồi hắn liền chuyển hướng tiến đánh Ngạc Châu (nay là Vũ Xương), rồi lại qua Giang Tây, An Huy, Chiết Giang. Quân phản loạn không có căn cứ địa, không có nguồn lương thảo, nên chỉ có thể tồn tại bằng cách cướp bóc. Dọc đường hành quân, chúng đã liên tục cướp bóc từ người dân, chiếm đoạt tài vật, bắt dân thường phải theo chúng, dần dần binh lực khôi phục lên đến 20 vạn người.

Đúng vào lúc thanh thế của Hoàng Sào đang dâng cao, các cuộc tạo phản nổ ra khắp thiên hạ, thì Đường Hy Tông vẫn còn mê mộng làm một thiên tử trong cảnh thái bình. Đường Hy Tông giỏi cưỡi ngựa bắn cung, thành thạo các binh khí như đoản kiếm, trường mâu, lại còn tinh thông toán số, âm luật, thậm chí giỏi cả cờ bạc nữa. Thứ gì cũng giỏi, chỉ riêng việc trị quốc là không hỏi đến. Hoàng đế ngày ngày chỉ biết chơi bời, sống trong mộng ảo vui vẻ, khi ban thưởng thì không có chừng mực. Có người hết lòng can gián, nhưng Đường Hy Tông lại ra lệnh bắt người ấy phải tự sát.

Lúc bấy giờ, hoạn quan Điền Lệnh Tư chuyên quyền, lộng hành chốn triều đình. Điền Lệnh Tư vốn là người Hứa Xương, Hà Nam, nguyên là họ Trần, về sau theo họ của cha nuôi mà đổi thành họ Điền. Anh của Điền Lệnh Tư là Trần Kính Tuyên. Điền Lệnh Tư từng tiến cử Trần Kính Tuyên với Trung Vũ tiết độ sứ Thôi An Tiềm (trị sở tại Hứa Xương), xin cho làm chức binh mã sứ nhưng bị từ chối. Thế là Điền Lệnh Tư liền gọi Trần Kính Tuyên vào triều, đề bạt làm tướng lĩnh của Thần Sách quân, rồi từng bước nâng lên đến chức Tả Kim Ngô Vệ tướng quân, chức quan tam phẩm.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Lưỡng Tống phồn hoa

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>