Tập 22: Đường Chiêu Tông có chí muốn trung hưng, nhưng không thể xoay chuyển tình thế

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 16/08/2026

Khi Đường Chiêu Tông lên ngôi, triều đình nhà Đường đã ở vào tình trạng thoi thóp, khí số gần như cạn kiệt. Lúc này, người phò lập Đường Chiêu Tông là hoạn quan Dương Phục Cung đang nắm trong tay thế lực vô cùng to lớn. Trước đó, Điền Lệnh Tư biết mình bị thiên hạ không dung, nên đã tiến cử Dương Phục Cung lên thay, giữ chức thống lĩnh Thần Sách quân.

Dương Phục Cung thu nhận rất nhiều nghĩa tử, tức là con nuôi, rồi đưa họ đi các nơi để đảm nhiệm chức tiết độ sứ, thống lĩnh quân đội và làm thứ sử các châu quận. Không chỉ vậy, trong hàng ngũ hoạn quan, Dương Phục Cung còn nhận nuôi tới sáu trăm nghĩa tử, cho phân tán đến các địa phương để làm chức giám quân, khống chế quân đội.

So với nạn hoạn quan, tình trạng phiên trấn hoàn toàn mất kiểm soát còn nghiêm trọng hơn nhiều. Nếu như vào trung kỳ của thời Đường, triều đình trung ương vẫn còn có thể liên hoành hợp tung giữa các phiên trấn, hoặc ít nhiều có thể gây ảnh hưởng đối với họ, còn đến thời Đường Chiêu Tông, ông đã hoàn toàn mất đi thực lực quân sự và uy thế, không còn có thể khiến bất kỳ phiên trấn nào nghe lệnh.

Trên thực tế, phạm vi mà Đường Chiêu Tông có thể khống chế chỉ còn vỏn vẹn là một thành Trường An. Còn ra khỏi kinh thành thì bốn bề đều là những thế lực chẳng hề nghe lệnh triều đình. Thậm chí ngay trong tình cảnh ấy, các tiết độ sứ vẫn có thể đem quân tiến vào Trường An mà uy hiếp hoàng đế, ép buộc Đường Chiêu Tông phải làm theo ý họ.

So với Hán Hiến Đế trong thời Tam Quốc, tuy cũng là hoàng đế bù nhìn, nhưng chí ít còn có Lưu Bị mang danh là “phục hưng Hán thất”. Còn Đường Chiêu Tông thì thực sự là cô gia quả nhân, không nơi nương tựa. Hán Hiến Đế sau khi nhường ngôi, còn sống thêm được 14 năm, còn kết cục của Đường Chiêu Tông lại thê thảm hơn nhiều, cuối cùng bị sát hại.

Tuy rằng Đường Chiêu Tông có chí muốn làm nên việc lớn, nhưng lại không thể đánh giá đúng thực lực của mình. Ngay năm thứ 2 sau khi lên ngôi, Lý Khắc Dụng đem quân đánh Hình Châu và giành thắng lợi, sau đó lại tiến công Vân Châu (tức là Đại Đồng), nhưng tại đây thì bị đánh bại.

Lúc này, Vân Châu phòng ngự sứ là Hách Liên Đạc cùng với Lư Long tiết độ sứ Lý Khuông Uy và Tuyên Vũ tiết độ sứ Chu Toàn Trung đều dâng biểu xin triều đình xuất binh thảo phạt Lý Khắc Dụng.

Ngay cả tể tướng Trương Tuấn cũng có hiềm khích với Lý Khắc Dụng. Trương Tuấn là người giỏi nói khoác, nhưng lại thiếu thực tài, nên Lý Khắc Dụng rất coi thường. Lý Khắc Dụng từng nói rằng: “Trương công chỉ giỏi bàn suông mà không có bản lĩnh thực tế, là hạng người có thể làm nghiêng đổ xã tắc. Chúa thượng vì danh mà dùng ông ta, ngày sau làm loạn thiên hạ tất là người này”.

Trương Tuấn nghe được thì vô cùng căm hận Lý Khắc Dụng, bèn hết sức xúi giục Đường Chiêu Tông xuất binh, Trương Tuấn nói rằng: “Năm xưa tiên đế phải chạy về Sơn Nam, chính là do Lý Khắc Dụng gây ra. Thần vẫn luôn lo hắn sẽ liên kết với các phiên trấn Hà Sóc, khi đó triều đình sẽ không còn cách nào đối phó. Nhưng nay các tiết độ sứ ở bắc Sơn Tây, Bắc Kinh và Hà Nam đều muốn đánh hắn, đây chính là cơ hội ngàn năm có một. Nếu bệ hạ giao binh cho thần, thì chỉ mười ngày nửa tháng là có thể dẹp yên Lý Khắc Dụng, còn nếu bỏ lỡ cơ hội này, e rằng có hối cũng không kịp”.

Đường Chiêu Tông vốn không muốn xuất binh, nhưng khi thấy tể tướng kiên quyết như vậy, thì hoàng đế cũng đành hạ chiếu thư, lệnh cho các phiên trấn đã dâng biểu, lấy Trương Tuấn làm tổng chỉ huy, xuất quân chinh phạt Lý Khắc Dụng. Kết quả là đánh 3 trận thì cả 3 lần đều bại.

Điều này cho thấy Lý Khắc Dụng nói cũng có phần đúng, Trương Tuấn chỉ giỏi nói suông, nhưng thực tế lại bất tài. Ngoài ra, Chu Toàn Trung đang bận chinh chiến ở nơi khác, không tham gia đánh Lý Khắc Dụng, đây cũng là một yếu tố quan trọng.

Sau khi thắng trận, Lý Khắc Dụng dâng sớ biện bạch cho mình, kể lại những công lao trước đây, đồng thời nhắc đến việc triều đình không xử lý công bằng những chuyện cũ liên quan đến Chu Toàn Trung. Đường Chiêu Tông cũng đành bất lực, hoàng đế hạ chiếu thư, khôi phục toàn bộ chức tước cho Lý Khắc Dụng, lại phong ông làm Trung thư lệnh.

Sau Lý Khắc Dụng, người khiến Đường Chiêu Tông càng thêm đau đầu chính là Phụng Tường tiết độ sứ Lý Mậu Trinh.

Như đã nói trước đó, hoạn quan Dương Phục Cung có thế lực rất lớn, ông ta cũng là người từng tiến cử Lý Khắc Dụng đi diệt giặc Hoàng Sào. Thế nhưng Dương Phục Cung lại khiến Đường Chiêu Tông rất bất mãn. Đường Chiêu Tông vốn luôn không ưa việc hoạn quan can dự triều chính, nên đã tìm cách ly gián mối quan hệ giữa Dương Phục Cung và nghĩa tử của ông ta là Dương Thủ Lập, rồi tìm cớ để giáng Dương Phục Cung xuống làm giám quân ở Phụng Tường.

Thế nhưng Dương Phục Cung không chịu nhận lệnh, ông ta xin cáo lão về quê, sau đó đến Hán Trung để nương nhờ nghĩa tử. Về sau, Dương Phục Cung cùng các nghĩa tử tại Hán Trung đã phát động phản loạn, nhưng bị Lý Mậu Trinh đánh tan.

Tuy nhiên, Lý Mậu Trinh nhờ có công mà sinh kiêu ngạo, ông ta đã yêu cầu triều đình xin được kiêm nhiệm hai trấn: vừa làm Phụng Tường tiết độ sứ, vừa làm Sơn Nam Tây đạo tiết độ sứ. Đường Chiêu Tông không chấp thuận, hoàng đế không thể chịu nổi cái người kiêu ngạo này, nên đã chuẩn bị phát binh chinh phạt. Khi ấy Tể tướng Đỗ Nhượng Năng ra sức can gián, đại ý nói rằng: “Bệ hạ quả thực muốn làm suy yếu các phiên trấn, nhưng hiện nay thời cơ chưa tới, trong ngoài triều đình cũng không có mấy người có thể giúp bệ hạ hoàn thành việc này. Thần tuy giữ chức tể tướng, nhưng năng lực có hạn. Nếu như bệ hạ phát binh tiến đánh Lý Mậu Trinh, e rằng chúng ta không thắng nổi. Huống chi địa bàn của Lý Mậu Trinh lại nằm ngay sát Trường An, chúng ta không thể kết oán với hắn được”.

Thế nhưng Đường Chiêu Tông không nghe, hoàng đế ép Đỗ Nhượng Năng phải đứng ra chịu trách nhiệm hoạch định kế hoạch chinh phạt Lý Mậu Trinh. Đỗ Nhượng Năng nói: “Việc dẹp yên phiên trấn vốn là quốc sách từ thời Đường Hiến Tông, chỉ là nay thời cơ không đúng, thế cục đã khác. Đến lúc đó, dù thần có bị giết như Triều Thác, e rằng cũng không thể dẹp nổi ‘loạn bảy nước’.”

Quả nhiên, Lý Mậu Trinh liên kết với Vương Hành Du để phát động binh biến, rất nhanh đã đánh bại quân triều đình do Đường Chiêu Tông phái đi chinh phạt, rồi thừa thắng tiến quân áp sát kinh thành. Lúc này Đỗ Nhượng Năng liền tâu với Đường Chiêu Tông: “Những điều thần dự liệu, nay đều đã ứng nghiệm. Xin bệ hạ đẩy mọi trách nhiệm lên người thần, như vậy có thể giúp bệ hạ giải quyết tình thế trước mắt”.

Lúc này Đường Chiêu Tông mới hiểu ra, hoàng đế rơi lệ không ngừng, nhưng cũng không còn cách nào khác, đành phải để Đỗ Nhượng Năng tự sát, đồng thời chấp thuận cho Lý Mậu Trinh kiêm nhiệm chức Tiết độ sứ của cả hai trấn.

Trong lúc các phiên trấn tranh đấu kịch liệt, thì ngay tại triều đình nhà Đường, từ đại thần cho đến quan lại cũng chia bè kết phái, thế như nước với lửa. Nhưng lúc này, những đại thần và quan lại ấy đều chỉ là vai phụ, buộc phải dựa vào thế lực phiên trấn mới có thể thực thi chủ trương của mình. Bởi vì cục diện khi ấy đã khác xa so với thời Đường Văn Tông mưu trừ hoạn quan: khi đó ai nắm được hoàng đế thì có thể thành công. Còn nay, thực lực của các phiên trấn đã vượt xa triều đình trung ương.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Lưỡng Tống phồn hoa

Từ Hiên Viên Hoàng Đế 2 lần đi tìm Quảng Thành Tử cầu Đạo, Khổng Tử hướng đến Lão Tử học Đạo, rồi đến Phật giáo từ Ấn Độ truyền nhập về phương Đông; Nho, Phật, Đạo đã đặt định ra văn hóa trọng Đức hành Thiện, tin vào nhân quả ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>