Tập 38: Thạch Kính Đường khai lập nước Hậu Tấn, đánh bại nước Hậu Đường

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 16/08/2026

Năm 934, con nuôi của Lý Tự Nguyên là Lý Tòng Kha lên ngôi. Còn Thạch Kính Đường thì đang nắm giữ một thế lực mạnh. Lý Tòng Kha vẫn luôn e dè thế lực của Thạch Kính Đường, cho rằng sớm muộn gì cũng sinh phản loạn, nên dứt khoát hạ lệnh điều ông ta rời khỏi phiên trấn Hà Đông.

Thạch Kính Đường nhận ra mâu thuẫn giữa đôi bên đã đến mức không thể tránh khỏi. Nhưng lực lượng trong tay vẫn không đủ, khó có thể chống đỡ, thế nên đành cầu viện Khiết Đan. Trong bức thư, Thạch Kính Đường hứa sẽ nhận hoàng đế Khiết Đan làm cha, và còn chấp nhận cắt nhượng 16 châu từ Yên Kinh đến Đại Đồng, đem dâng cho Khiết Đan, từ đó gây nên mối họa biên cương kéo dài suốt mấy trăm năm của Trung Nguyên.

Sự việc Thạch Kính Đường nhận Gia Luật Đức Quang làm cha. Đối với người Hán mà nói thì đó là điều vô cùng nhục nhã. Thế nhưng Thạch Kính Đường vốn không phải người Hán, mà là người Sa Đà, vì vậy ông không có khái niệm về chữ “hiếu” nặng như người Hán, nên cũng không xem việc ấy là điều khó chấp nhận.

Năm 936, vào tháng 5, Lý Tòng Kha hạ chiếu điều Thạch Kính Đường từ Thái Nguyên sang Vận Châu (nay thuộc huyện Đông Bình, Sơn Đông) để làm tiết độ sứ. Thạch Kính Đường đã kháng lệnh không tuân, lại còn công khai chỉ trích rằng Lý Tòng Kha chỉ là con nuôi của Lý Tự Nguyên, không có tư cách kế thừa ngôi vị của Hậu Đường.

Lý Tòng Kha liền nổi giận, ra lệnh bãi miễn toàn bộ chức tước của Thạch Kính Đường, đồng thời phát binh vây đánh Tấn Dương, đây là trị sở của Thạch Kính Đường tại Thái Nguyên, Sơn Tây.

Đến tháng chín, Hoàng đế Khiết Đan là Gia Luật Đức Quang đã đích thân dẫn 5 vạn đại quân tiến đánh Trung Nguyên, nhưng tự xưng là có đến 30 vạn. Tại ngoại thành Tấn Dương, quân Khiết Đan đã đánh tan quân Hậu Đường đang vây thành. Quân Hậu Đường có khoảng 5 vạn người cùng một vạn chiến mã, do Trương Kính Đạt chỉ huy, sau khi bại trận phải lui về cố thủ ở Tấn An trại, nằm phía tây nam Thái Nguyên, gần khu vực Tấn Từ.

Lý Tòng Kha quyết định thân chinh, nhưng khi đại quân tiến đến Hà Dương (nay thuộc Mạnh huyện, Hà Nam) thì vì e sợ liên quân Khiết Đan và Thạch Kính Đường, nên do dự không dám tiến thêm. Ông bèn phái đại tướng Triệu Đức Quân đi cứu viện Tấn An trại. Nhưng trong lòng Triệu Đức Quân lại nuôi chí riêng, muốn dựa vào thế lực Khiết Đan để tự lập mà xưng đế, đồng thời lại liên tục yêu cầu Lý Tòng Kha phong cho con là Triệu Diên Thọ làm Thành Đức Tiết độ sứ.

Vì vậy, quân của Triệu Đức Quân tuy đóng cách Tấn An chỉ hơn trăm dặm, nhưng lại án binh bất động, cũng không hề liên lạc hay phối hợp với đội quân đang bị vây trong trại.

Quân Hậu Đường bị vây tại Tấn An suốt ba tháng, lương thảo cạn kiệt, cuối cùng phát sinh binh biến. Chủ tướng Trương Kính Đạt bị giết, số quân còn lại đã mở trại đầu hàng Thạch Kính Đường. Cha con Triệu Đức Quân cũng thuận thế rồi đầu hàng Khiết Đan.

Gia Luật Đức Quang nói với Thạch Kính Đường rằng: “Ta thấy ngươi khí độ hiên ngang, thật xứng làm lãnh tụ Trung Nguyên, chi bằng ta phong ngươi làm hoàng đế”.

Đây thực là một việc hết sức quái lạ: danh hiệu hoàng đế vốn tôn quý, thế mà lại do ngoại tộc ban cho. Thêm vào đó, quần thần cũng dâng biểu tôn lập, đến tháng 11 năm ấy, Thạch Kính Đường chính thức đăng cơ xưng đế, lập ra nước Hậu Tấn, sau đó dời đô về Khai Phong, trở thành triều đại thứ ba trong thời Ngũ Đại Thập Quốc.

Ngay sau khi lên ngôi, Thạch Kính Đường lập tức cắt nhượng Yên Vân thập lục châu dâng cho Khiết Đan, làm đúng theo lời hứa khi trước, mỗi năm lại tiến cống 30 vạn tấm lụa, giá trị tương đương khoảng 30 vạn lạng bạc. Sau đó, Thạch Kính Đường cùng đại quân Khiết Đan tiến đánh phía nam, tiến đến bờ bắc Hoàng Hà. Khi Thạch Kính Đường vượt sông tiến đánh, tướng sĩ Hậu Đường lần lượt đầu hàng. Lý Tòng Kha thấy đại thế đã mất, đến ngày 26 tháng nhuận 11 thì tự thiêu mà chết.

Thạch Kính Đường làm hoàng đế suốt sáu năm. Tuy rằng ông đối với Khiết Đan hết mực cung thuận, dâng nộp đủ loại kỳ trân dị bảo, sứ giả hai bên qua lại không dứt, thế nhưng bên phía Khiết Đan lại luôn tỏ ra ngạo mạn, khinh thường.

Năm 937, Khiết Đan đổi quốc hiệu thành Liêu. Trong triều Hậu Tấn, không ít đại thần và tướng lĩnh đã rất bất mãn với việc hoàng đế xưng là ‘con’ đối với nước Liêu. Có người dung nạp dân chúng các tộc khác rồi bỏ trốn, có người dâng thư chỉ trích Thạch Kính Đường là quá đỗi nhu nhược, thậm chí có người còn nhục mạ hoặc giết sứ giả nước Liêu, rồi âm thầm luyện binh, chuẩn bị đối kháng.

Bên phía nước Liêu thì liên tiếp phái người đến trách cứ. Khi này Thạch Kính Đường ở vào thế tiến thoái lưỡng nan, hai bên đều không vừa lòng, trong lòng vừa lo lắng lại uất ức, cuối cùng vào năm 942 thì buồn bực mà qua đời.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Lưỡng Tống phồn hoa

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>