Ngày 17 tháng 12 năm 946, quân Liêu tiến đến cửa Phong Khâu ở phía tây bắc thành Khai Phong. Thạch Trọng Quý rơi vào bước đường cùng, định tự thiêu mà chết, nhưng bị thuộc hạ can ngăn. Thế là Thạch Trọng Quý bèn viết biểu xin hàng, tự xưng là cháu, rồi lại xưng thần với nước Liêu. Liêu Thái Tông – Gia Luật Đức Quang viết thư đáp rằng: “Cháu chớ lo, ta ắt sẽ tìm cho ngươi một nơi có cái ăn”.
Ngày mùng 1 tháng Giêng năm 947, Liêu Thái Tông – Gia Luật Đức Quang tiến vào thành Khai Phong.
Trước khi vào thành, Liêu Thái Tông đã bắt được Cảnh Diên Quảng, ông hỏi rằng: “Ta và quân vương Hậu Tấn trở mặt, đều là do ngươi ở giữa xúi giục. Mười vạn ‘hoành ma kiếm’ của ngươi, nay ở đâu?”
Sau đó, ông cho gọi Kiều Vinh đến để đối chất với Cảnh Diên Quảng. Xem ra những lời Cảnh Diên Quảng sỉ nhục nước Liêu không chỉ có mỗi câu “mười vạn hoành ma kiếm”. Lúc đầu, Cảnh Diên Quảng một mực chối sạch. Nhưng khi Kiều Vinh đem ra bức thư năm xưa do chính ông ta sai thư lại viết, lúc này Cảnh Diên Quảng không còn gì để chối. Cuối cùng, Gia Luật Đức Quang ra lệnh áp giải Cảnh Diên Quảng về phương Bắc. Trên đường đi, Cảnh Diên Quảng đã tự sát.
Khi Liêu Thái Tông – Gia Luật Đức Quang tiến vào Khai Phong, ban đầu người dân vô cùng sợ hãi, họ ríu rít gọi nhau, chuẩn bị chạy trốn. Gia Luật Đức Quang lên thành lầu, rồi sai người phiên dịch truyền lời rằng: “Ta cũng là người, các ngươi chớ có sợ! Ta nhất định sẽ khiến các ngươi khôi phục lại cuộc sống yên ổn như trước. Thực ra ta vốn không định đến đây, đều là quân đội người Hán dẫn ta tới.”
Lúc đầu, Liêu Thái Tông quả thực không xâm phạm dân chúng, ông giữ quân đội kỷ luật nghiêm minh. Liêu Thái Tông phong Thạch Trọng Quý làm “Phụ Nghĩa hầu”, rồi cho đày đi Hoàng Long phủ. Thạch Trọng Quý sống khá lâu, mãi đến năm 974 mới qua đời. Khi ấy, triều Bắc Tống đã lập quốc được 14 năm.
Ban đầu, Liêu Thái Tông – Gia Luật Đức Quang không ở trong hoàng cung mà đóng tại doanh trại, để văn võ bá quan người Hán vẫn có thể làm việc như thường. Đến ngày mùng 7 tháng Giêng thì mới dời vào cung, sau đó lại mặc y phục người Hán, đội mũ người Hán, trật tự cũng được duy trì khá ổn định. Điều đó cho thấy Liêu Thái Tông rất khôn khéo, mặc dù chiến thắng nhưng không kiêu ngạo, ông hiểu thế nào là nhập gia tùy tục.
Thế nhưng Gia Luật Đức Quang không hề lương thiện như vẻ bề ngoài. Ông vẫn canh cánh trong lòng đối với đám quân Hậu Tấn đã đầu hàng. Lúc đầu thì chỉ ép họ giao nộp vũ khí, lại tịch thu mấy vạn chiến mã cùng hàng trăm vạn binh khí, giáp trụ, đem vận chuyển về nước Liêu, khiến cho nước Hậu Tấn mất hẳn khả năng phản kháng.
Dù vậy, Liêu Thái Tông vẫn không yên tâm với mấy vạn quân này, nên đã nhiều lần có ý muốn giết sạch, nhưng được Triệu Diên Thọ can gián nên mới thôi.
Triệu Diên Thọ đưa ra hai kiến nghị.
Thứ nhất, Hậu Tấn tiếp giáp với Nam Đường và Hậu Thục, cần phải phái quân trấn giữ đường biên giới dài hàng nghìn dặm. Mà vùng biên giới ấy lại quá gần phương Nam, đối với người Khiết Đan vốn quen với khí hậu phương Bắc thì không chịu nổi sự nóng ẩm, vì vậy vẫn phải dựa vào quân Hậu Tấn.
Thứ hai, nếu lo ngại những binh sĩ này sẽ làm phản, thì hãy đưa gia quyến của họ về phương Bắc, rồi chia binh lính thành hai phiên, mỗi năm luân phiên trấn thủ phương Nam — nửa năm ở nhà, nửa năm ra biên ải. Nhưng vì gia quyến đều nằm trong tay nước Liêu, nên họ không thể làm phản.
Gia Luật Đức Quang cho rằng lời ấy có lý, nên mới không giết hết quan binh của nước Hậu Tấn.
Trung Nguyên là nơi phồn hoa, vật chất dồi dào, khác hẳn với thảo nguyên phương bắc. Rất nhanh sau đó, Liêu Thái Tông bắt đầu sa vào lối sống xa hoa, ông thỏa sức tiếp nhận cống phẩm từ bốn phương, lại uống rượu vui chơi không thể tiết chế. Triệu Diên Thọ từng khuyên nên phát quân lương, lương thảo và cỏ nuôi ngựa cho quân Liêu, nhưng Liêu Thái Tông đã bỏ ngoài tai, lại còn buông thả cho kỵ binh đi khắp nơi cướp bóc dân chúng và tài vật.
Từ đó, trai tráng người Hán chết thảm dưới đao kiếm, còn người già yếu, phụ nữ, trẻ nhỏ thì chết đói ngoài đồng nội. Trong phạm vi vài trăm dặm quanh Khai Phong, của cải trong dân bị vét sạch không còn gì.
Lúc này, Hậu Tấn vẫn còn một đạo quân thực lực rất mạnh, đó là quân Hà Đông tiết độ sứ Lưu Tri Viễn.
Về danh nghĩa, Lưu Tri Viễn dâng biểu xưng thần với Khiết Đan, nhưng tuyệt không buông bỏ binh quyền, cũng không rời Hà Đông để đến Khai Phong yết kiến Gia Luật Đức Quang. Có người khuyên ông nên chủ động tiến đánh quân Liêu, nhưng Lưu Tri Viễn nói: “Quân Liêu hiện đang rất mạnh, không nên đối đầu trực diện. Ta thấy bọn chúng tiến vào Trung Nguyên, mục đích duy nhất là cướp bóc của cải. Đợi đến khi vơ vét xong, ắt sẽ quay về phương Bắc. Khi ấy, xuân ấm hoa nở, khí hậu nóng lên, họ sẽ không thể ở lại lâu, tất sẽ rút quân. Lúc đó mới đánh thì có thể nắm chắc phần thắng”.
Nhận định của Lưu Tri Viễn quả không sai. Ngày 17 tháng 3 năm 947, Gia Luật Đức Quang hạ chiếu rút quân về phương Bắc.
Trước khi Liêu Thái Tông – Gia Luật Đức Quang rút quân về phương Bắc, vào ngày 15 tháng 2 năm 947, Lưu Tri Viễn đã lên ngôi xưng đế tại Thái Nguyên. Ban đầu, ông vẫn dùng niên hiệu Thiên Phúc của Hậu Tấn, đến tháng sáu thì đổi quốc hiệu thành “Hán”, sử gọi là Hậu Hán, trở thành triều đại thứ tư trong thời Ngũ Đại Thập Quốc.
Còn Gia Luật Đức Quang, trên đường rút về thì đột ngột lâm bệnh và qua đời tại huyện Loan thuộc Hà Bắc. Có lẽ đây chính là quả báo vì ông đã cho quân Khiết Đan giày xéo bách tính Trung Nguyên. Cái chết của Gia Luật Đức Quang đã làm bùng phát một cuộc nội loạn mới trong nội bộ nước Liêu.
Gia Luật Đức Quang là con thứ của Gia Luật A Bảo Cơ. Còn con trưởng của A Bảo Cơ là Đột Dục, được phong làm quốc vương Đông Đan quốc, trấn giữ phần đất cũ của Bột Hải, đóng đô tại thành Phù Dư.
Sau khi Thuật Luật hoàng hậu lập Gia Luật Đức Quang lên ngôi, Đột Dục không phục, ông phẫn nộ vượt biển chạy sang Trung Quốc. Khi ấy, Đường Minh Tông Lý Tự Nguyên đã ban cho ông họ Lý, đổi tên là Lý Mộ Hoa.
Con của Đột Dục là Ngột Dục thì vẫn ở lại Khiết Đan, theo chân Liêu Thái Tông chinh chiến tứ phương, rất được trọng dụng. Đến khi Liêu Thái Tông qua đời, Triệu Diên Thọ định dẫn người Hán nổi dậy phản kháng, nhưng bị Ngột Dục bắt giữ, sau đó ông qua đời tại Liêu quốc.
Quân Liêu bèn tôn lập Ngột Dục làm hoàng đế. Khi ấy mẹ của A Bảo Cơ là Thuật Luật thái hậu đã vô cùng phẫn nộ, bà nói rằng: “Con ta là Thái Tông chinh chiến đông tây, lập nên đại công, đáng lẽ phải do con cháu của nó kế vị. Còn cha của Ngột Dục đã phản bội chúng ta mà chạy theo người Hán, sao có thể lập con của kẻ đại nghịch ấy làm hoàng đế?”
Thế là Thuật Luật thái hậu phát binh tiến đánh Ngột Dục, nhưng rồi bị đánh bại, rồi bà bị giam lỏng bên cạnh lăng mộ của Gia Luật A Bảo Cơ. Ngột Dục trở về Thượng Kinh, xưng là “Thiên Thụ hoàng đế”, sử gọi là Liêu Thế Tông.
