Tập 61: Hòa bình nhiều năm, binh lực Tống – Liêu dần suy yếu, Tây Hạ quật khởi

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 26/09/2026

Vương Khâm Nhược rất khéo ăn nói, ông ta đã ly gián mối quan hệ giữa Tống Chân Tông và Khấu Chuẩn. Lúc này, Hoàng đế cũng bắt đầu lấy việc ký kết minh ước với Liêu là điều sỉ nhục, ông bèn hỏi Vương Khâm Nhược xem nên làm thế nào để rửa nhục. Vương Khâm Nhược đáp: “chỉ cần phát binh thu phục U Châu là được”. Tống Chân Tông cho rằng chiến sự vừa mới dừng, hiệp ước mới ký xong, không thể nuốt lời mà tái khởi binh đao.

Vương Khâm Nhược liền nói: “vậy vẫn còn một cách khác, đó là làm lễ Phong Thiện” — tức là lên núi Thái Sơn để làm đại lễ tế cáo với trời đất, dùng nghi lễ ấy để phô trương uy danh với bốn phương dị tộc.

Nhưng trong thời xưa, việc hoàng đế cử hành lễ Phong Thiện là một nghi lễ vô cùng trọng đại. Muốn làm được việc ấy, trước hết phải có công nghiệp văn trị võ công hiển hách, lại phải được trời cao giáng xuống điềm lành làm chứng, rồi mới đủ tư cách tiến hành.

Trong lòng Tống Chân Tông cũng không khỏi băn khoăn: không biết khi nào trời mới ban điềm lành, mà công đức của bản thân liệu có đủ để cảm động thiên ý hay không.

Vương Khâm Nhược bèn nói: “Điềm lành của trời, ai dám chắc sẽ xuất hiện? Nếu không chờ được thì cứ tự tạo ra. Chỉ cần làm cho giống thật, bệ hạ tỏ ra tin sâu không nghi rồi công khai cho thiên hạ biết, thì cũng chẳng khác gì trời ban điềm lành”.

Nói trắng ra, đó chính là tự dối mình dối người, bày ra điềm lành giả tạo.

Thế là Tống Chân Tông bắt đầu làm theo, hết lần này đến lần khác nguỵ tạo điềm lành, lại nhân đó mà cho xây dựng những công trình quy mô lớn, hao tốn vô số tiền của. Trong 25 năm trị vì, về cuối đời, chính sự của Tống Chân Tông ngày càng trở nên lỏng lẻo, suy bại.

Bên phía nước Liêu. Dưới sự chấp chính của Thừa Thiên Thái hậu – Tiêu Yến Yến, quốc gia dần dần cường thịnh, phồn vinh. Bà qua đời vào năm 1009, tổng cộng nắm quyền suốt 27 năm.

Sau khi Tiêu Thái hậu mất, Liêu Thánh Tông bắt đầu chấp chính. Thời gian tại vị của ông rất dài, tổng cộng là 49 năm, nhưng thời gian trực tiếp chấp chính thì chỉ có 22 năm.

Đến năm thứ 2 sau khi Liêu Thánh Tông đích thân chấp chính, tại Cao Ly đã xảy ra một cuộc chính biến, bề tôi giết vua. Vì thế, Liêu Thánh Tông đã khởi binh, mở cuộc chiến chinh phạt Cao Ly.

Thế nhưng Cao Ly là một dân tộc vô cùng ngoan cường. Năm xưa, Tùy Dạng Đế đã huy động binh lực chinh phạt Cao Ly đến 3 lần, thế nhưng đều thất bại, từ đó dẫn đến vong quốc. Ngay cả Đường Thái Tông và Đường Cao Tông khi đánh Cao Ly, mặc dù chiến thắng nhưng đều vô cùng gian nan.

Lúc này, cuộc chiến giữa Liêu Thánh Tông và Cao Ly đã kéo dài suốt 10 năm, hai bên đều hao tổn binh lực đến mức kiệt quệ. Cuối cùng, Cao Ly dâng biểu xưng thần, bắt đầu triều cống, quan hệ giữa hai nước mới tạm thời khôi phục hòa hảo. Sau cuộc chiến với Cao Ly, nước Liêu cũng từ đó mà chuyển từ thịnh sang suy.

Ngay khi Tống và Liêu còn duy trì bang giao hòa hảo, ở vùng tây bắc của nhà Tống lại nổi lên một bộ tộc Đảng Hạng. Người Đảng Hạng vô cùng dũng mãnh thiện chiến, họ đã gây ra không ít phiền toái cho cả Tống và Liêu.

Người Đảng Hạng từ thời thượng cổ đã cư trú tại khu vực Thanh Hải và Cam Túc, họ là hậu duệ của người Khương. Thuở ban đầu, họ chưa có chữ viết cũng như lịch pháp, mà chỉ dựa vào sự sinh trưởng, tàn úa của cỏ cây mà tính năm tháng.

Lúc đầu, Đảng Hạng có tám bộ tộc, giữa các bộ tộc không có quan hệ lệ thuộc lẫn nhau. Trong đó, bộ tộc mạnh nhất là bộ Thác Bạt. Lịch sử của bộ Thác Bạt khá khó để khảo chứng, bởi vì trong Tùy thư nói rằng Đảng Hạng là người Khương, nhưng riêng họ Thác Bạt lại là một họ của tộc Tiên Ti.

Về sau, khi loạn Hoàng Sào bùng phát, thủ lĩnh Đảng Hạng là Thác Bạt Tư Cung đã tham gia dẹp loạn, ông được phong làm Tiết độ sứ Định Nan, chiếm giữ địa bàn gồm năm châu. Trị sở đặt tại vùng tây nam huyện Du Lâm, thuộc khu vực giáp giới ba tỉnh Thiểm Tây, Nội Mông và Ninh Hạ, khi ấy gọi là Hạ Châu. Đường Hy Tông còn ban cho Thác Bạt Tư Cung quốc tính họ Lý, vì vậy Thác Bạt Tư Cung cũng được gọi là Lý Tư Cung.

Đến khi Bắc Tống lập quốc, người Đảng Hạng khi thì phụ thuộc vào nhà Tống, khi lại ngả theo Khiết Đan. Triều Tống nhiều lần phát binh chinh phạt, khi Đảng Hạng đánh không lại thì họ đầu hàng, sau vài năm thì lại nổi loạn, khiến triều đình vô cùng đau đầu.

Đến thời Tống Chân Tông, thủ lĩnh Đảng Hạng là Lý Đức Minh đã dâng biểu xin quy thuận Bắc Tống, Hoàng đế phong ông làm Tây Bình vương. Đồng thời, nước Liêu cũng sắc phong Lý Đức Minh làm Đại Hạ quốc vương. Lý Đức Minh tại vị 29 năm, trong thời gian đó cơ bản đã duy trì được cục diện hòa bình với cả Tống và Liêu.

Lý Đức Minh có một người con trai tên là Lý Nguyên Hạo. Từ nhỏ, Nguyên Hạo đã thích đọc binh thư, tính tình hùng tráng, có chí lớn. Ông đa tài đa nghệ, lại tinh thông hội họa, thông thạo cả văn tự Thổ Phồn lẫn Hán tự. Đối với việc Đảng Hạng phải xưng thần với Bắc Tống, Lý Nguyên Hạo hết sức bất mãn, ông cho rằng bậc anh hùng tất phải tự lập làm đế vương.

Năm 1032, Lý Đức Minh qua đời, Lý Nguyên Hạo kế vị, nối tước Tây Bình vương. Từ đó, ông bắt đầu mở rộng thế lực về phía tây, đánh đuổi Hồi Hột tại Cam Châu, lại giao chiến với Thổ Phồn, đến năm 1036 thì đã hoàn toàn chiếm lĩnh hành lang Hà Tây.

Không chỉ chinh chiến, Lý Nguyên Hạo còn đặt ra văn tự riêng của người Đảng Hạng, chế định lễ nhạc, về quan chế thì phần nhiều noi theo Bắc Tống. Tất cả những bước chuẩn bị về quân sự và thể chế ấy, kỳ thực đều nhằm mục đích xưng đế lập quốc.

Năm 1038, Lý Nguyên Hạo chính thức xưng đế, định đô tại Hưng Khánh phủ, tức vùng Ngân Xuyên thuộc Ninh Hạ ngày nay, đặt niên hiệu là Thiên Thụ, quốc hiệu là Đại Hạ. Sách sử Trung Hoa gọi là nước Tây Hạ.

Lúc bấy giờ, lãnh thổ Tây Hạ phía đông đến Hoàng Hà, phía tây tới Ngọc Môn quan, phía nam đến Tiêu quan, phía bắc giáp đại mạc, binh lực toàn quốc ước chừng khoảng 50 vạn quân.

Sự quật khởi của Tây Hạ đối với cả Tống và Liêu đều không phải điều dễ chịu. Khi ấy, Bắc Tống đang do Tống Nhân Tông trị vì. Khi nghe tin Tây Hạ lập quốc, Tống Nhân Tông lập tức tước bỏ toàn bộ quan tước của Lý Nguyên Hạo, lại đoạn tuyệt giao thương giữa hai nước, rồi cho treo bảng cáo thị nơi biên cảnh, tuyên bố rằng: ai có thể bắt sống hoặc chém được Lý Nguyên Hạo, triều Tống sẽ phong làm Định Nan Tiết độ sứ. Từ đó, chiến sự giữa Bắc Tống và Tây Hạ chính thức bùng nổ. 

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Lưỡng Tống phồn hoa.

Có một điều kỳ lạ xảy ra vào ngày 25/04/1999, đến nay vẫn chưa có lời giải đáp. Đó là một tình tiết trong câu chuyện giữa thủ tướng Trung Quốc thời bấy giờ là ông Chu Dung Cơ và 3 học viên Pháp Luân Công đi cùng ông vào bên ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>