Trong Tống sử có riêng một thiên truyện viết về Bao Chửng. Với những tấu chương mà ông dâng lên hoàng đế, về sau được hậu thế biên tập thành mười quyển “Bao Chửng tấu nghị”, đều là những sử liệu có độ tin cậy rất cao.
Bao Chửng là người Hợp Phì, hai mươi tám tuổi thi đỗ tiến sĩ. Ông từng đảm nhiệm chức Khai Phong phủ doãn, tương đương với chức “thị trưởng” của kinh thành. Lại từng giữ các chức Thiên Chương các đãi chế và Long Đồ các trực học sĩ, đó đều là những chức quan chuyên phụ trách tham mưu, cố vấn cho hoàng đế, vì thế dân gian còn gọi ông là Bao đãi chế, Bao Long Đồ.
Chức vị cao nhất mà Bao Công từng làm là Khu mật phó sứ, tương đương với phó tổng tham mưu trưởng của quân đội. Ngoài ra, ông còn từng làm chức gián quan, chuyển vận sứ, cùng nhiều chức vụ khác, nên có kinh nghiệm làm quan vô cùng phong phú.
Trong tiểu thuyết, Bao Chửng được miêu tả là có gương mặt đen, trên trán có vết hình trăng lưỡi liềm, từng phá giải rất nhiều vụ án ly kỳ, rửa oan cho dân chúng. Nhưng phần lớn những chi tiết đó đều là sự diễn giải mang tính văn học.
Tại Bao Công từ ở Hợp Phì, An Huy, vẫn còn bức chân dung vẽ Bao Công lúc tuổi già, cho thấy sắc da ông hoàn toàn bình thường, trên trán cũng không có vết hình trăng lưỡi liềm. Tuy vậy, trong chính sử, Bao Công quả thực là người thanh liêm, công chính, không sợ quyền quý, lại luôn thương xót nỗi khổ của dân.
Sau khi đỗ tiến sĩ, triều đình bổ nhiệm Bao Chửng đến Giang Tây làm quan. Nhưng vì cha mẹ tuổi tác đã cao, lại không muốn ông rời xa, thế là Bao Chửng bèn từ quan, trở về quê để phụng dưỡng song thân.
Vài năm sau, cha mẹ ông lần lượt qua đời. Bao Chửng dựng một túp lều cỏ bên cạnh phần mộ của cha mẹ để thủ tang. Đến khi mãn tang, ông vẫn còn quyến luyến, chần chừ không nỡ rời đi. Hương lão trong làng đã nhiều lần đến khuyên nhủ, động viên. Mãi đến năm Cảnh Hựu thứ tư (tức năm 1037), cũng là 10 năm sau khi đỗ tiến sĩ, Bao Chửng mới trở lại kinh thành, chờ triều đình bổ nhiệm.
Mỗi khi Bao Chửng đến một nơi để nhậm chức, ông đều xem xét lại những chính sách nào đang làm tăng gánh nặng cho dân, rồi dâng sớ xin triều đình bãi bỏ, ông làm quan nổi tiếng thanh liêm. Năm Khánh Lịch nguyên niên (tức năm 1041), Bao Chửng được điều đến Đoan Châu (nay là Triệu Khánh, Quảng Đông) để làm quan Tri châu. Đoan Châu vốn là nơi sản xuất nghiên mực, chính là loại mực Đoan nghiên nổi tiếng.
Trong “văn phòng tứ bảo” gồm bút, mực, giấy, nghiên; thì loại tốt nhất chính là Hồ bút, Đoan nghiên, Huy mặc, Tuyên chỉ. Vì vậy, những người đến Đoan Châu làm quan thường nhân việc tiến cống mà thu gom số lượng nghiên mực nhiều gấp mấy chục lần định mức, rồi đem biếu tặng kẻ quyền quý trong triều.
Thế nhưng Bao Chửng chỉ cho chế tạo số nghiên đúng bằng số lượng cống phẩm quy định. Khi mãn nhiệm, ông không hề mang về nhà dù chỉ một phương nghiên.
Ngoài bản tính liêm khiết, một đặc điểm nổi bật nữa của Bao Công chính là việc ông không sợ kẻ quyền quý.
Có một người tên là Vương Quỳ, từng nhiều lần giữ chức Chuyển vận sứ, tức là trưởng quan của một “lộ” — là đơn vị hành chính cấp cao trong thời nhà Tống. Chức này phụ trách tài chính của cả một vùng rộng lớn. Vương Quỳ đã bày ra đủ thứ danh mục để bóc lột tiền của dân. Khi người dân không thể chịu nổi nữa, họ buộc phải đứng lên để phản kháng. Thế là Vương Quỳ lập tức phái binh lính đến trấn áp, lạm dụng hình phạt tàn khốc, khiến lòng dân oán giận.
Thế nhưng Vương Quỳ có quan hệ mật thiết với tể tướng, lại rất được Tống Nhân Tông sủng tín, nên hắn càng thêm ngang nhiên lộng hành, không hề kiêng sợ.
Vì việc này, Bao Chửng đã bảy lần liên tiếp dâng sớ hạch tội. Đến lần cuối, ông đã trực tiếp chỉ trích Tống Nhân Tông rằng: “Nay bệ hạ không đoái hoài đến lời nói của dân, nhất định dùng kẻ quan tàn bạo. Đối với một mình Vương Quỳ thì là may mắn, nhưng đối với cả một lộ dân chúng thì chẳng phải là đại bất hạnh sao!” Lời lẽ của ông cương trực, sắc bén, khiến triều đình và dân gian đều chấn động, dư luận dậy sóng. Cuối cùng, triều đình đã bãi chức của Vương Quỳ.
Bao Chửng làm quan rất ngay thẳng, bất kể đối phương là ai, chỉ cần làm điều sai trái thì nhất định sẽ hạch tội — từ tể tướng, phò mã, thân vương, cho đến thân thích của Trương Quý phi được hoàng đế sủng ái. Đương thời lưu truyền rằng, hễ nơi nào có tham quan, thì bất kể thế lực ra sao, Bao Chửng ắt sẽ dâng sớ vạch tội, gọi là “Bao đàn”.
Khi Bao Chửng giữ chức Khai Phong phủ doãn, khu vực sông Huệ Dân liên tục gặp lũ lụt. Ông phát hiện rằng nhiều quan lại quyền quý cùng các hoạn quan đắc thế, vì muốn dinh thự của chúng thêm phần mỹ lệ, nên đã lấn chiếm lòng sông để xây dựng lầu đài, hoa viên, khiến dòng chảy bị tắc nghẽn. Thế là Bao Chửng không chỉ cho nạo vét lại sông Huệ Dân, mà còn kiên quyết ra lệnh phá bỏ toàn bộ những công trình ấy. Có thể tưởng tượng, chỉ một việc này thôi cũng đủ đắc tội với biết bao kẻ quyền quý trong triều.
Không những không sợ kẻ quyền quý, Bao Công còn là vị quan nghiêm khắc, chấp pháp nghiêm minh.
Khi Bao Công giữ chức Tri huyện Thiên Trường, có một nông dân đến nha môn tố cáo rằng kẻ gian đã cắt lưỡi con trâu cày của mình, xin quan phủ bắt hung thủ. Việc cắt lưỡi trâu vốn không đem lại lợi ích về tiền bạc, nên Bao Chửng suy đoán đây hẳn là hành vi trả thù riêng. Vì vậy, ông ra lệnh cho người nông dân đem trâu đi giết, rồi bán thịt. Theo pháp luật của nhà Tống khi ấy, giết trâu cày là phạm pháp. Quả nhiên đúng như Bao Chửng đã dự liệu, kẻ đã cắt lưỡi trâu thấy chủ trâu giết trâu, liền đến nha môn tố cáo. Như vậy chẳng khác nào tự chui đầu vào lưới, vụ án lập tức được phá giải.
Khi Bao Công giữ chức Tri châu Lư Châu — chính là quê hương của ông — thì những người thân thích cho rằng có thể dựa vào Bao Công để được che chở, nên họ đã làm không ít việc ỷ thế hiếp người, thậm chí còn quấy nhiễu nha môn.
Bao Chửng quyết tâm phải “đại nghĩa diệt thân”, lấy đó làm gương. Đúng lúc ấy, có một người cậu bên ngoại của ông đã phạm pháp. Bao Chửng không vì tình thân mà dung túng, ngay tại công đường đã chiếu theo pháp luật mà đánh đòn trừng trị. Từ đó về sau, những người thân thích quen biết đều phải tự thu liễm, không dám làm càn nữa.
Khi Bao Công làm Khai Phong phủ doãn, ông lại tiến hành cải cách chế độ tố tụng. Theo lệ cũ, người đi kiện tụng phải nộp đơn cho lại dịch giữ cửa, rồi họ sẽ chuyển trình lên trên; và việc có thụ lý hay không, khi nào thụ lý, thì đều do lại dịch thông báo. Vì người dân không được trực tiếp gặp quan, nên bọn lại dịch thường lợi dụng cơ hội để vòi vĩnh, đòi tiền hối lộ; người có oan khuất mà không đủ tiền hối lộ thì có thể sẽ không được kêu oan.
Bao Chửng đã bãi bỏ tệ nạn này, ông cho mở rộng chính môn, cho phép người dân được đến thẳng công đường, trực tiếp gặp quan, nộp đơn và tự trình bày oan tình. Nhờ vậy, việc xét án cũng trở nên công chính, hợp lý.
Đông Kinh là nơi tập trung nhiều hoàng thân quốc thích, quan lại hiển quý, từ trước đến nay vốn là nơi khó quản lý nhất. Thế nhưng Bao Chửng làm quan mà rất nghiêm khắc, rất có nguyên tắc, không vì tình riêng mà lung lay, hễ ai dùng quan hệ riêng để cầu xin thì đều nhất loạt từ chối, nhờ đó khiến Đông Kinh được trị lý nghiêm minh, kỷ cương được giữ vững.
Cũng chính vì Bao Chửng chấp pháp nghiêm khắc, không vì tình riêng, nên uy danh chấn động kinh sư. Khi ông lấy thân phận Thiên Chương các đãi chế làm gián quan, ông đã dâng sớ đàn hặc bọn quyền quý, khiến “quý thích hoạn quan đều phải thu tay, người nghe đến đều sinh lòng e dè”.
Bao Chửng là người vô cùng nghiêm túc, rất ít khi cười. Tống sử chép rằng: “Người ta ví việc thấy Bao Chửng cười khó như Hoàng Hà trở nên trong, trẻ con phụ nữ cũng đều biết tên ông, gọi là ‘Bao đãi chế’. Kinh sư lưu truyền câu nói: ‘Không thể thông qua quan hệ, vì đã có Diêm La Bao lão.’”
Có lẽ cũng vì ông suốt ngày nghiêm mặt, nên trong tiểu thuyết mới diễn thành hình tượng “Bao Công mặt đen”. Đến cả phụ nữ và trẻ nhỏ cũng đều biết đến uy danh của ông. Ở Khai Phong phủ khi ấy lưu truyền một câu: “trên đời có hai người không thể hối lộ — một là Diêm Vương, hai là Bao Công”.
Bao Công vì phải chấp pháp, nên không kết giao bạn bè; bởi một khi đã có tình bằng hữu thì sẽ khó tránh khỏi nể nang mà thiên vị. Vì vậy, ở nhà ông cũng không nhận thư riêng, cũng không tiếp khách riêng.
Bao Công còn để lại gia huấn rằng: “Hậu thế tử tôn làm quan mà có kẻ phạm tội tham ô, thì không được cho trở về bản tộc, sau khi chết cũng không được chôn trong phần mộ của gia tộc. Kẻ nào không theo lời này, thì không phải là con cháu của ta”.
Sự kiên trì nguyên tắc của Bao Chửng gần như đến mức cố chấp, thậm chí đôi lúc có phần không hợp tình người. Tư Mã Quang từng đánh giá về ông như sau: “Khi thuộc hạ có việc trình bày, ông thường thích chỉ trích thẳng mặt, khiến người ta khó xử, nhưng nếu người khác nói hợp lý, ông cũng lập tức thay đổi mà nghe theo. Cương mà không cố chấp, điều này người thường khó mà làm được.”
Bao Chửng khi thấy người khác làm sai thì liền chỉ ra ngay, đôi khi khiến đối phương mất mặt. Nhưng một khi nhận ra mình sai, ông sẽ lập tức sửa đổi. Vì vậy, Tư Mã Quang nói ông “cương mà không bạo”, tức là tính cách cứng rắn nhưng không cố chấp, không tự cho mình là đúng.
Sau thất bại của “Khánh Lịch tân chính”, Bao Chửng cũng từng đưa ra một số chủ trương cải cách. Đối với vấn đề quan lại dư thừa, ông đề nghị phải nghiêm ngặt tuyển chọn quan viên, những người không đủ năng lực thì phải loại bỏ, còn người đến bảy mươi tuổi thì bắt buộc phải về hưu.
Đối với vấn đề binh lính dư thừa, Bao Chửng chủ trương ngừng tuyển mộ, để những người già yếu rời khỏi quân ngũ. Còn trước tình trạng quân đội sức chiến đấu quá yếu, ông đề xuất tuyển chọn và huấn luyện tinh binh cường tướng, đồng thời rèn luyện nghĩa dũng, tăng cường phòng bị nơi biên thùy.
Những chủ trương cải cách của Bao Chửng cũng có điều tương đồng với Khánh Lịch tân chính của Phạm Trọng Yêm, nhưng sử sách không ghi rõ những đề xuất này có được thực thi cụ thể hay không.
Trên thực tế, nhiều bậc sĩ phu có kiến thức đều nhận thấy rằng, nếu Bắc Tống không tiến hành cải cách, không đi theo con đường “phú quốc cường binh”, thì tất sẽ phải đối mặt với nguy cơ rất lớn: nội bộ thì tài chính cạn kiệt, bên ngoài bị ngoại địch xâm lấn.

