Tập 74: Tư Mã Quang phế bỏ biến pháp của Vương An Thạch

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 30/09/2026

Năm 1085, chỉ 1 năm trước khi Vương An Thạch qua đời, Tống Thần Tông băng hà. Thái tử Triệu Hú lên ngôi, hiệu là Tống Triết Tông.

Khi Triết Tông lên ngôi mới chỉ 10 tuổi, quyền lực thực tế nằm trong tay Thái hoàng thái hậu họ Cao – tức thân mẫu của Tống Thần Tông. Vị Thái hoàng thái hậu này vốn đã không ưa biến pháp của Vương An Thạch, nên sau khi nắm quyền, bà liền lập Tư Mã Quang nên làm tể tướng.

Trong thời kỳ biến pháp của Vương An Thạch được thi hành, Tư Mã Quang vì không đồng ý nên lui về Lạc Dương, ông tập trung biên soạn bộ sách “Tư trị thông giám”. Đến khi Tống Thần Tông băng hà, bộ sách này đã được hoàn thành.

Sau khi được phong làm tể tướng, Tư Mã Quang lập tức bắt tay vào việc bãi bỏ toàn bộ các tân pháp do Vương An Thạch đề ra. Trên thực tế, cũng có những tân pháp đã được thi hành một thời gian, và người dân cũng đã cảm nhận được lợi ích, ví dụ như là Mộ dịch pháp, thế nhưng Tư Mã Quang vẫn nhất quyết bãi bỏ.

Tô Thức và Phạm Thuần Nhân vốn là những người phản đối tân pháp của Vương An Thạch, thế nhưng không phải là phản đối toàn bộ, họ đều cho rằng Mộ dịch pháp không nên bị bãi bỏ, song cuối cùng vẫn bị Tư Mã Quang hủy bỏ. Vì vậy có thể thấy, Tư Mã Quang đối với tân pháp của Vương An Thạch thì cũng mang một thái độ cố chấp. Người đương thời than rằng: đây lại là một “Vương An Thạch” khác, chỉ là nghiêng về phía ngược lại mà thôi. Tư Mã Quang và Vương An Thạch không ưa nhau, nhưng lại có tính cách cố chấp giống hệt nhau.

Niên hiệu của Tống Triết Tông là Nguyên Hựu, nên sự kiện bãi bỏ toàn bộ tân pháp của Vương An Thạch còn được gọi là “Nguyên Hựu canh hóa”.

Thế nhưng Tư Mã Quang làm tể tướng được gần 2 năm thì qua đời. Lúc này, những người trước kia từng phản đối Vương An Thạch cũng lần lượt trở về kinh và nắm quyền, họ được gọi là “Nguyên Hựu chư quân tử”.

Nhưng trên thực tế, nội bộ những người này cũng có những bất đồng ý kiến, lại phân thành 3 phái. Một phái do Trình Di đứng đầu, ông là nhà Lý học nổi tiếng của Bắc Tống. Nhóm này không tán đồng với cách làm của Vương An Thạch, nhưng lại rất tán thành lý tưởng của ông, đồng thời cũng không đồng ý với cách làm cực đoan của Tư Mã Quang khi bãi bỏ toàn bộ tân pháp. Bởi vì Trình Di là người Lạc Dương, nên phái này được gọi là “Lạc phái”.

Một phái do Lưu Chí, môn sinh của Tư Mã Quang đứng đầu, chủ trương bãi bỏ toàn bộ tân pháp của Vương An Thạch. Lưu Chí là người Hà Bắc, nên phái này được gọi là “Sóc phái”. Theo cách gọi thời xưa, ‘sóc’ có nghĩa là phương bắc.

Còn một phái khác lấy Tô Thức làm đại biểu, họ cũng không tán thành việc bãi bỏ toàn bộ tân pháp của Vương An Thạch. Tuy nhiên, nhóm này coi trọng thi phú văn chương, không giống như Lạc phái của Trình Di thiên về kinh học. Vì Tô Thức là người Tứ Xuyên, nên được gọi là “Thục phái”.

Tô Thức tuy rằng bất đồng ý kiến với Vương An Thạch, nhưng quan hệ bạn bè giữa hai người vẫn khá tốt đẹp. Tuy vậy, ba phái Lạc, Sóc, Thục này lại thành ra công kích lẫn nhau, tranh chấp không ngừng.

Tống Triết Tông tại vị tổng cộng 15 năm, 8 năm đầu là thời kỳ Thái hoàng thái hậu chấp chính, hoàng đế hầu như không có quyền quyết đoán, thậm chí quần thần cũng chẳng để ý đến ông. Vô hình trung, Tống Triết Tông dần sinh lòng bất mãn đối với Thái hoàng thái hậu.

Đến năm 1093, khi Thái hoàng thái hậu qua đời, Tống Triết Tông bắt đầu đích thân xử lý chính sự, khi ấy ông mới 18 tuổi, cũng giống như phụ hoàng, Tống Triết Tông cũng mong muốn có những thành tựu lớn. Năm 1094, ông đổi niên hiệu thành Thiệu Thánh, chữ “Thiệu” có nghĩa là kế thừa, ngụ ý rằng muốn tiếp nối sự nghiệp còn dang dở của tiên hoàng Tống Thần Tông, và lại chuẩn bị khởi động biến pháp.

Vì thế, những người phản đối biến pháp như Tô Thức, Phạm Tổ Vũ, lần lượt bị biếm chức. Trong khi đó, con rể của Vương An Thạch là Sái Biện, anh của Sái Biện là Sái Kinh, cùng với Chương Đôn và Lã Huệ Khanh lần lượt từng bước được trọng dụng, quyền thế ngày càng lớn. Thế nhưng Chương Đôn và Sái Kinh lại là hạng gian thần đại ác: Chương Đôn gần như đứng đầu trong “Gian thần truyện”, còn Sái Kinh là thủ lĩnh của “lục tặc” cuối thời Bắc Tống.

Chương Đôn từng đề nghị đào mộ của Tư Mã Quang và Lã Công Trứ, đào mộ quật roi, về sau được người khác khuyên can mãi mới thôi, điều này là đủ để thấy lòng dạ hẹp hòi của ông ta. Chương Đôn lại nhiều lần dựng nên các vụ án lớn, tìm kế để đày ải địch thủ đến những vùng hoang vu ở Lĩnh Nam, còn đề nghị Tống Triết Tông giết hết những người bị lưu đày. Nhưng hoàng đế nói: “Trẫm tuân theo di chế của tổ tông, chưa từng giết hại đại thần, hãy thả họ ra, đừng truy cứu nữa”.

Còn Sái Kinh thì là một kẻ tiểu nhân. Khi Tư Mã Quang bãi bỏ tân pháp, Sái Kinh đang giữ chức Tri phủ Khai Phong. Tư Mã Quang ra lệnh trong vòng 5 ngày phải bãi bỏ Mộ dịch pháp của Vương An Thạch. Những người khác đều nói việc này không thể làm nhanh như vậy, dù sao thì cũng cần phải có quá trình, nhưng Sái Kinh lại hoàn thành chỉ trong 5 ngày, rồi dâng thư báo công trạng lên Tư Mã Quang.

Đợi đến khi Tống Triết Tông ủng hộ tân pháp, Sái Kinh lập tức quay sang công kích Tư Mã Quang và các “Nguyên Hựu quân tử”, đủ thấy rằng đây là con người hai mặt, phẩm hạnh thấp kém, muốn dựa vào kẻ quyền quý để được vinh hoa. Về sau, Chương Đôn và Sái Kinh thậm chí còn dùng lời lẽ để công kích cả Thái hoàng thái hậu, nói bà muốn hại Tống Triết Tông. May nhờ Thái hậu là thân mẫu của Tống Triết Tông đứng ra biện giải, hoàng đế mới hiểu rõ sự tình, quở trách Chương Đôn và Sái Kinh.

Tống Triết Tông muốn khôi phục tân pháp, nhưng lại trọng dụng tiểu nhân, khiến chính trị dần dần bại hoại. Mà thật ra cũng khó cho Tống Triết Tông, bởi vì bọn tiểu nhân rất khó phân biệt, họ cũng giỏi và rất khéo ăn nói, hoàng đế rất dễ bị họ che mắt.

Đến năm 1100, Tống Triết Tông băng hà, người kế vị là em trai Đoan vương Triệu Cát, hiệu là Tống Huy Tông. Tuy rằng vị hoàng đế cuối cùng trước khi Bắc Tống diệt vong là Tống Khâm Tông, nhưng Khâm Tông chỉ là vị hoàng đế lâm thời bị ép mà lập nên. Chính Tống Huy Tông mới là người đưa Bắc Tống đi trên con đường diệt vong.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Lưỡng Tống phồn hoa.

Gần đây hai chữ “tu luyện” được sử dụng nhiều trong cuộc sống hằng ngày, dường như chỉ trải qua một chút nỗ lực và mài dũa, liền có thể đạt được mục tiêu nào đó trong cuộc sống. Thực ra, hai chữ “tu luyện” này là câu trả lời cho ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>