Tập 8: Thổ Phồn dần trở nên hùng mạnh, liên tục quấy nhiễu nhà Đường

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 16/08/2026

Từ sau loạn An Sử, thế lực ngoại bang quấy nhiễu Đại Đường nghiêm trọng nhất chính là Thổ Phồn. Nhân lúc triều đình suy yếu, quân Thổ Phồn đã chiếm cứ vùng Hà Tây và Lũng Hữu, lãnh thổ phía Đông vươn đến tận trung bộ Thiểm Tây, tùy thời có thể uy hiếp Trường An.

Năm 763, khi loạn An Sử vừa mới được bình định, Thổ Phồn đã nhân cơ hội nhà Đường suy yếu, dẫn hơn 20 vạn quân tiến công, đánh chiếm Trường An. Đường Đại Tông phải chạy về Thiểm Châu (nay thuộc Hà Nam). Quân Thổ Phồn ở Trường An đã liên tục đốt phá, giết chóc, cướp bóc suốt 15 ngày, đến khi quân cần vương của nhà Đường từ bốn phương kéo về thì Thổ Phồn mới rút lui.

Sau khi Quách Tử Nghi kết minh với Hồi Cốt để chống lại Thổ Phồn, thì Thổ Phồn không còn ngang ngược như trước, thế nhưng họ vẫn liên tục quấy nhiễu biên giới nhà Đường, dọc theo dải biên giới trải dài từ Cam Túc, Thiểm Tây cho đến Tứ Xuyên. Tuy hai bên cũng từng lập minh ước để phân định biên giới, nhưng Thổ Phồn đã nhiều lần bội ước, chỉ là về sau không còn tạo được uy hiếp nghiêm trọng đối với kinh đô Trường An nữa.

Đến năm Trinh Nguyên thứ 9 trong thời Đường Đức Tông (tức năm 793), nhà Đường thi hành một kế sách khá cao minh: ở phía bắc thì xây dựng một loạt thành trì để phòng ngự Thổ Phồn, còn phía nam thì lệnh cho Kiếm Nam Tây Xuyên tiết độ sứ – Vi Cao ở Tứ Xuyên liên kết với nước Nam Chiếu ở Vân Nam, hình thành thế gọng kìm để cùng tiến đánh Thổ Phồn. Sau nhiều lần giao chiến, liên quân hai nước đã đánh bại 48 vạn quân Thổ Phồn, chém hơn năm vạn thủ cấp, khiến thực lực của Thổ Phồn bị tổn thất nặng nề. Đến khi Đường Văn Tông lên ngôi, Thổ Phồn đã suy yếu. 

Trong những năm đầu nhà Đường lập quốc, Đường Thái Tông đã thi hành hòa thân với Thổ Phồn, Tùng Tán Cán Bố đã xin được cưới Văn Thành công chúa. Khi ấy, Phật giáo tại Thổ Phồn vẫn chưa hình thành quy mô lớn.

Trước đó, ở Thổ Phồn thịnh hành một tôn giáo bản địa gọi là Bôn giáo, còn gọi là Hắc giáo, thế lực vô cùng mạnh mẽ. Theo ghi chép trong sử thư Phật giáo Tây Tạng, vào khoảng giữa thế kỷ VIII — tức là vào thời điểm trước sau loạn An Sử — Tạng vương Xích Tùng Đức Tán đã phát nguyện hoằng dương Phật pháp. Ông thỉnh mời Đại sư Tịch Hộ từ Ấn Độ sang để truyền pháp, đồng thời dự định sẽ xây chùa. Nhưng do sự quấy nhiễu của thế lực Bôn giáo, việc xây chùa mãi mà không thành.

Vì vậy, theo lời khuyên của Tịch Hộ, Xích Tùng Đức Tán đã phái người sang Ấn Độ để thỉnh mời Liên Hoa Sinh đại sư. Tương truyền rằng, Liên Hoa Sinh đã dùng thần thông để hàng phục các “thần” và “ma” của Bôn giáo, khiến họ trở thành hộ pháp cho Phật giáo. Và chính ông đã đích thân chọn đất, trải qua 12 năm, dựng nên ngôi chùa đầu tiên tại Tây Tạng là Tang Da tự.

Từ đây, Tây Tạng lần đầu tiên có đầy đủ tam bảo (Phật – Pháp – Tăng). Còn trước đó thì cũng như Đại Chiêu tự và Tiểu Chiêu tự, tức là nơi thờ tượng Phật và cất giữ kinh điển, chứ chưa có tăng chúng tu hành thực sự. Kể từ khi có Tang Da Tự, Phật pháp tại Tây Tạng dần dần hưng thịnh, trong lịch sử gọi đây là thời kỳ “Tiền hoằng”.

Theo ghi chép trong sử liệu Tây Tạng, Liên Hoa Sinh đại sư cũng đã dự liệu trước rằng về sau sẽ xuất hiện pháp nạn diệt phật. Vì thế, ông đã đi khắp nhiều nơi trên cõi Tây Tạng, chôn giấu “phục tàng” ở rất nhiều nơi. “Phục tàng” tức là đem kinh điển, tượng Phật và pháp khí của Phật giáo ẩn tàng lại, chờ đợi hậu thế khai mở. Có nơi thì chôn dưới lòng đất, có nơi thì giấu trong hang núi hay ven sông, có phục tàng lại được cất giữ trong không gian khác, đợi người tu hành có thần thông thì mới có thể phát hiện ra. Những “phục tàng” này đều được hộ pháp gìn giữ.

Vì thế, Phật giáo Tây Tạng mang đậm sắc thái huyền diệu, đã lưu lại rất nhiều “thần tích” mà người hiện nay thấy khó có thể lý giải, ví như hiện tượng “hồng hóa” của các vị Lạt-ma, việc tìm kiếm chuyển thế linh đồng, hay sự lưu truyền của sử thi Cách Tát Nhĩ vương truyện… Hiện tượng hồng hóa của Lạt-ma thì đến thời cận đại vẫn còn được ghi nhận: có người kể rằng, khi xảy ra thì chỉ nghe một tiếng động, thấy một luồng ánh sáng, rồi thân thể vị Lạt-ma liền biến mất. Vào thập niên 1950, Thiếu tướng Trương Quốc Hoa của Trung Cộng đã từng tận mắt chứng kiến một trường hợp như vậy. Bởi thế, Phật giáo Tây Tạng có rất nhiều biểu hiện kỳ ảo khiến người đời sau không khỏi kinh ngạc.

Vào cuối thời kỳ Tiền hoằng của Phật giáo Tây Tạng, tức dưới triều Xích Tổ Đức Tán (năm 815 – 838), Phật giáo tại đây đã vô cùng hưng thịnh, thậm chí quyền lực triều chính phần lớn cũng rơi vào tay tăng lữ. Khi ấy triều đình còn quy định rằng cứ bảy hộ dân thì phải nuôi một vị tăng, lại đặt ra những hình phạt rất nghiêm khắc đối với người nào không kính trọng Phật giáo hoặc xúc phạm tăng nhân. Cuối cùng đã dẫn đến sự bất mãn của rất nhiều đại thần và bách tính. Sự bất mãn ấy rốt cuộc đã dẫn tới hậu quả là pháp nạn nghiêm trọng của Phật giáo tại Tây tạng.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Lưỡng Tống phồn hoa

Có một điều kỳ lạ xảy ra vào ngày 25/04/1999, đến nay vẫn chưa có lời giải đáp. Đó là một tình tiết trong câu chuyện giữa thủ tướng Trung Quốc thời bấy giờ là ông Chu Dung Cơ và 3 học viên Pháp Luân Công đi cùng ông vào bên ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>