Vào tháng 2 năm Tuyên Hòa thứ bảy (tức năm 1125), sau khi nước Liêu bị diệt, Bắc Tống lập tức ký kết với nước Kim một hiệp ước còn nhục nhã hơn trước. Ngoài việc mỗi năm phải dâng nộp tuế tệ, tức là tiền cống nạp, Bắc Tống còn phải trả thêm 100 vạn mân tiền để chuộc lại Yên Kinh. Nhưng khi binh lính nhà Tống đến tiếp quản thành trì, thì phát hiện ra rằng đây chỉ còn là một toà thành trống, toàn bộ người dân đã bị nước Kim bắt đi, của cải cũng đã bị lấy sạch.
Quan hệ giữa hai nước Tống – Kim nhanh chóng chuyển biến xấu. Mặc dù nước Kim muốn tấn công Bắc Tống, nhưng vẫn chưa tìm được cớ. Nhưng khi ấy, triều đình Bắc Tống lại tự tạo cho đối phương những cái cớ rất hợp lý.
Trước hết là việc Bắc Tống không nên thu nạp viên hàng tướng của nước Liêu là Trương Giác. Trong Tống sử, quyển 472 có chép truyện của Trương Giác. Người này quê ở Bình Châu (nay thuộc Lư Long huyện, phía tây Tần Hoàng Đảo), từng thi đỗ tiến sĩ. Khi Thiên Tộ Đế của nước Liêu bại trận rồi chạy về phía tây, Bình Châu đã phát sinh binh biến, sau khi tiết độ sứ bị giết, các tướng tôn Trương Giác lên làm tri châu. Trương Giác thấy nước Liêu vận số đã tận, bèn nhân đó mà chiếm cứ một phương, dưới trướng có đến 5 vạn binh.
Sau khi Gia Luật Thuần qua đời, Tiêu phi từng có ý chiêu hàng Trương Giác, nhưng hắn đã cự tuyệt. Đợi đến khi quân Kim chiếm được Yên Kinh, Trương Giác lại thuận thế mà quy hàng nước Kim, rồi được phong chức “đồng trung thư môn hạ bình chương sự”, tương đương chức tể tướng. Nước Kim còn nâng Bình Châu lên làm Nam Kinh, địa vị gần như một đô thành trực thuộc.
Sau khi chiếm được Yên Kinh, nước Kim đã cưỡng ép bắt toàn bộ dân chúng nơi đây phải dời lên phương bắc, chỉ để lại cho nhà Tống một tòa thành trống. Những người dân bị lưu đày ấy không chịu nổi khổ cực, không hề muốn đi, họ chỉ có thể nổi dậy chống cự.
Nhưng muốn nổi dậy thì tất phải có thực lực. Khi ấy, chỉ có Trương Giác là đủ binh lực, đủ lương thảo. Vì thế, khi đoàn dân lưu tán đi qua Bình Châu, họ đã khẩn thiết cầu xin Trương Giác đứng ra khởi binh.
Trương Giác bàn bạc với các tướng rồi nói: “Chi bằng tạo phản đi! Nếu thế cùng lực tận, ta còn có thể xuôi về phía nam, nương tựa Bắc Tống, có gì phải sợ?” Sau đó, Trương Giác nghe tin Liêu Thiên Tộ Đế đã chạy về hướng tây, có ý đồ phục quốc, Trương Giác bèn phản lại nước Kim. Trương Giác một mặt liên lạc với Bắc Tống, mong được quy thuận, thế nhưng lại treo chân dung Thiên Tộ Đế, ngày đêm khấu bái, mọi việc lớn nhỏ đều đến trước ảnh mà tâu bày rồi mới thi hành.
Kim Thái Tông nghe tin Trương Giác tạo phản thì vô cùng phẫn nộ, bởi trước đó nước Kim quốc vẫn luôn ra sức lôi kéo, trọng thưởng cho hắn, thế mà lại tạo phản. Vì thế, Kim Thái Tông sai Hoàn Nhan Tông Vọng đem quân thảo phạt Trương Giác. Quân Kim đánh cho Trương Giác đại bại, phải chạy trốn vào Yên Kinh của nhà Tống.
Tri phủ Yên Kinh là Vương An Trung lại dung nạp Trương Giác, việc này đã bị người Kim phát giác. Nước Kim lập tức gửi thư đòi phải giao nộp Trương Giác. Vương An Trung không cam lòng, nhưng cũng không dám trái lệnh, gặp phải cảnh tiến thoái lưỡng nan. Thế rồi Vương An Trung đã tìm một kẻ có dung mạo khá giống với Trương Giác, cho giết rồi đem đầu nộp cho nước Kim.
Nào ngờ việc gian trá bị lộ. Người Kim nói thẳng: “Kẻ này không phải là Trương Giác, hắn đang ẩn nấp trong kho chứa giáp trụ, nghi trượng của ngươi. Nếu không giao nộp, chúng ta sẽ đem quân đến bắt”.
Xem ra nước Kim đã nắm được tin tình báo, nếu không thì không thể biết rõ ràng đến vậy. Lần này Vương An Trung không dám giở trò nữa, đành ngoan ngoãn giết Trương Giác rồi đem nộp cho nước Kim.
Cách làm của triều đình Bắc Tống trong việc này, xét ra thì có ba tầng đều là thất sách.
Thứ nhất, không nên thu nạp Trương Giác, bởi một khi đã thu nạp hắn, thì tất sẽ đắc tội với nước Kim.
Thứ hai, nếu đã thu nạp Trương Giác thì phải quyết ý chống đỡ đến cùng, vậy mà Vương An Trung lại quay sang giết Trương Giác, chẳng khác nào tự hạ mình trước Kim, khiến đối phương càng xem thường, cho rằng nước Tống là mềm yếu.
Thứ ba, việc giết Trương Giác sẽ khiến các hàng tướng nước Liêu sinh lòng sợ hãi, lo sợ. Vốn dĩ họ quy thuận Bắc Tống là để tìm chỗ nương thân, mong được che chở, nào ngờ thấy triều đình nhà Tống lại e sợ nước Kim đến vậy, họ ắt sẽ thất vọng vô cùng.
Bởi thế, hàng tướng nước Liêu là Quách Dược Sư đã thốt ra một câu rất tiêu biểu cho tâm trạng của kẻ đầu hàng, ông ta nói: “Nếu một ngày nước Kim đòi giao nộp ta – Quách Dược Sư, thì sẽ như thế nào?” Chính câu nói ấy đã gieo xuống mầm họa phản bội về sau.
Vụ việc của Trương Giác xảy ra vào năm Tuyên Hòa thứ sáu. Lúc này, giữa Tống và Kim cũng đã bắt đầu nảy sinh va chạm.
Ngay trong năm ấy, lại phát sinh một chuyện rắc rối khó phân. Khi Triệu Lương Tự cùng Kim Thái Tổ tiến hành bàn giao đất Yên Kinh, từng hứa sẽ cấp cho nước Kim quốc hai mươi vạn thạch lương thực, nhưng lời hứa này đã không được ghi vào văn bản hiệp nghị giữa hai bên.
Về sau, nước Kim đòi lương thực từ Tuyên phủ sứ Đàm Chẩn, thì Đàm Chẩn đáp rằng: “Ta không hề biết chuyện này, trong hiệp ước cũng không có ghi. Hơn nữa, 20 vạn thạch lương thực đâu phải nói có là có, việc trưng thu cũng cần thời gian”. Ý tứ như vậy, thực chất là từ chối yêu cầu của nước Kim.
Vì thế, nước Kim cho rằng Bắc Tống nuốt lời, bèn xuất binh đánh chiếm Linh Khâu và Phi Hồ, lại giết cả tướng giữ thành. Đây chính là cái cớ thứ hai để nước Kim quốc tiến đánh Bắc Tống.
Cái cớ thứ ba là việc Bắc Tống bí mật gửi thư qua lại với Liêu Thiên Tộ Đế. Vốn theo hiệp ước “Hải Thượng chi minh”, nước Tống và Kim đã ước định không được hòa giải hay ngầm liên lạc với nước Liêu. Nhưng đến năm Tuyên Hòa thứ sáu, vì sự kiện Trương Giác nổ ra khiến quan hệ Tống – Kim bắt đầu căng thẳng, lại thêm việc nước Kim đòi lương thảo rồi chiếm luôn 2 huyện của Tống, khiến Bắc Tống sinh lòng e sợ, quay sang muốn liên kết với Thiên Tộ Đế để cùng nhau đánh nước Kim.
Trong Tục Tư trị thông giám, quyển 95 ghi rằng: khi Liêu chủ đang ở Giáp Sơn, Tống Huy Tông muốn dụ ông quy thuận, bèn sai một tăng nhân người phiên mang theo thư viết tay trên lụa để truyền đạt ý tứ, nhưng chưa đóng ngọc tỷ. Đợi khi Thiên Tộ Đế bằng lòng thì sẽ đổi thư thành chiếu chỉ chính thức, hứa rằng nếu quy hàng thì sẽ đối đãi như hoàng đệ, địa vị còn trên cả Yên vương và Việt vương, sẽ xây cho một phủ đệ nghìn gian, ban cho 300 ca nữ. Thiên Tộ Đế nghe vậy thì rất mừng.
Sau đó, Đồng Quán đến Thái Nguyên, bề ngoài là bàn với Kim quốc việc bàn giao vùng đất phía tây Thái Hành Sơn, nhưng thực chất là để đón Thiên Tộ Đế. Thiên Tộ Đế tuy rằng có ý nương tựa Bắc Tống, nhưng lại cảm thấy nhà Tống không đáng tin cậy, cuối cùng ông từ bỏ ý định, chạy về Sơn Âm.
Khi ấy, sứ thần Bắc Tống được phái đi liên lạc với Liêu Thiên Tộ Đế, mỗi lần đều phải đi qua Vân Trung, mà người Kim thì lần nào cũng dò xét rất kỹ. Về sau, khi Thiên Tộ Đế bại trận bỏ chạy, quân Kim không tìm được tung tích, liền sai người đến trách cứ Đồng Quán vì đã dung chứa ông ta.
Việc Bắc Tống lén lút qua lại với nước Liêu vốn là hành vi bội ước. Đồng Quán dĩ nhiên không chịu thừa nhận, một mực nói không có chuyện đó. Nhưng sứ giả nước Kim với lời lẽ ngạo mạn, ép bức ngày càng gấp.
Đồng Quán bất đắc dĩ, bèn sai các tướng đến biên cảnh lục soát, lại hạ lệnh: “Hễ gặp kẻ dị sắc mục thì không cần tra hỏi, cứ giết rồi giao nộp cho sứ giả.” Gọi là “dị sắc mục” là bởi người mang thư là nhà sư vùng biên ải, màu mắt khác với người Hán. Ý của Đồng Quán là chỉ cần thấy ai có màu mắt khác thường thì phải lập tức giết đi.
Đúng lúc ấy, nước Kim đại thắng, bắt sống được Liêu Thiên Tộ Đế, nên việc này mới tạm lắng xuống.
Cái cớ thứ tư cũng liên quan đến Trương Giác, bởi khi ấy ông ta đã thả dân chúng Bình Châu và Yên Kinh, cho họ quay về đất Bắc Tống. Thế là nhị thái tử của nước Kim quốc là Hoàn Nhan Tông Vọng liền đòi Bắc Tống phải giao trả số dân này, nhưng phía nước Tống không chấp thuận.
Vì thế, nước Kim lấy những sự việc ấy làm cái cớ để phát động hai đạo đại quân nam hạ, tiến đánh Bắc Tống. Tây lộ quân do Hoàn Nhan Tông Hàn cùng Gia Luật Dư Đổ thống lĩnh, từ Vân Trung tiến về Thái Nguyên, Đông lộ quân do Hoàn Nhan Tông Vọng chỉ huy, cùng các tông thất đại tướng Hoàn Nhan Thát Lãn và Hoàn Nhan Đồ Mẫu, tiến công Yên Kinh.

