Tháng 10 năm 1125, nước Kim chia quân làm hai đường, ồ ạt tiến công Bắc Tống. Tây lộ quân bị chặn lại ở Thái Nguyên, còn đông lộ quân nhờ Quách Dược Sư dẫn đường mà có thể tiến sâu vào Trung Nguyên, như vào chốn không người.
Tống Huy Tông nghe tin thì kinh hãi, vội vàng chạy xuống Trấn Giang để lánh nạn, trước khi đi thì vội vã nhường ngôi cho Tống Khâm Tông. Triều đình một phen rối loạn, lòng người chấn động. Hữu thừa tướng Lý Cương chủ trương kiên quyết kháng chiến, ông đã nhiều lần chỉ huy quân Tống đánh lui quân Kim.
Bấy giờ, các đạo quân cần vương từ bốn phương liên tục kéo về kinh thành để hộ giá, thế quân như vây kín, vốn là thời cơ ngàn năm có một để hợp binh tiêu diệt quân Kim. Thế nhưng Tống Khâm Tông nhu nhược, chỉ một mực cầu hòa, lại còn bãi chức Lý Cương, giống như tự chặt tay chân của mình.
Đại địch áp sát trước mắt, hoàng đế thực ra chỉ có ba con đường: hoặc là chạy, hoặc là chiến, hoặc là cầu hòa.
Ban đầu, Tống Khâm Tông một lòng muốn bỏ chạy. Về sau nhận ra không còn đường thoát, nên mới miễn cưỡng ở lại Đông Kinh. Nhưng trong việc đối phó với người Kim, hoàng đế lại do dự bất định, lúc thì muốn đánh, lúc lại không dám đánh. Bởi vì lưỡng lự, nên khi giao chiến không thể dốc toàn lực. Cái việc tiến thoái thất thường, tự làm loạn phương lược ấy, rốt cuộc đã trở thành một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự diệt vong của Bắc Tống.
Khi quân Kim vừa mới vây thành, Lý Cương phụng chỉ của Tống Khâm Tông, đứng ra tổ chức kháng cự. Công việc phòng thủ của ông được bố trí hết sức nghiêm mật, có hiệu quả rõ rệt, quân dân Bắc Tống đồng tâm đồng đức, sĩ khí dâng cao, nhiều lần đánh lui những đợt tiến công dữ dội của quân Kim.
Thế nhưng đúng vào lúc ấy, Tống Khâm Tông lại muốn cầu hòa, ông còn chuẩn bị chấp nhận toàn bộ điều kiện mà nước Kim đưa ra, trong đó có việc nộp 5 nghìn vạn lượng bạc, 5 trăm vạn lượng vàng. Thế nhưng dù có đập nát cả Đông Kinh đem bán thì cũng không thể gom đủ số vàng bạc ấy.
Chỉ một chi tiết đó thôi cũng đủ thấy Tống Khâm Tông nhu nhược đến mức nào: không dám chống ngoại địch, mà chỉ biết quay sang bóc lột chính lê dân của mình. Hoàng đế cho người tịch thu tài sản của người dân trong thành, ai dám che giấu tài sản thì sẽ bị xử theo quân pháp.
Tiếp đó, các đạo cần vương từ vùng Quan Trung và Cam Túc lần lượt kéo tới. Quân đội phía tây vốn là lực lượng có sức chiến đấu mạnh nhất trong toàn bộ quân đội Bắc Tống. Bởi vì phía bắc giáp với nước Liêu, phía nam giáp với nước Đại Lý và Giao Chỉ, đều ít khi xảy ra chiến sự, nhưng chỉ riêng phía Tây giáp với Tây Hạ là liên tục xảy ra giao tranh. Tướng lĩnh phía Tây liên tục trải qua giao chiến, nên đều vô cùng tinh nhuệ.
Tuy thời Tống Nhân Tông từng ký hòa ước với Tây Hạ, nhưng các triều của Tống Thần Tông, Tống Triết Tông và Tống Huy Tông, chiến tranh với Tây Hạ vẫn nhiều lần bùng phát. Vì thế, quân đội vùng Quan Lũng gần như quanh năm ở trong tình trạng chinh chiến, dày dạn kinh nghiệm trận mạc.
Đến khi đại quân Quan Lũng do Chủng Sư Đạo và Diêu Bình Trọng thống lĩnh, tổng cộng có 20 vạn quân kéo đến Đông Kinh, Tống Khâm Tông liền cảm thấy có hy vọng nên muốn trở lại để kháng cự chống quân Kim.
Lúc này, quan điểm của Lý Cương và Chủng Sư Đạo là hoàn toàn nhất trí, họ chủ chương dùng đàm phán để kéo dài thời gian, đồng thời cắt đứt tuyến tiếp tế của quân Kim, rồi điều binh vây hãm khiến đối phương không thể tỏa ra bốn phía mà cướp bóc lương thực. Chỉ cần qua một thời gian ngắn, quân Kim tất sẽ rơi vào cảnh lương cạn binh mệt, buộc phải rút lui. Đến khi ấy, chỉ cần bám sát phía sau, chờ lúc chúng vượt Hoàng Hà mà đánh vào giữa dòng, thì có thể trong một trận mà tiêu diệt quân Kim. Đó thực là một diệu kế vững như bàn thạch, tiến thoái đều có đường, gần như nắm chắc phần thắng trong tay.
Nhưng Diêu Bình Trọng lại làm hỏng việc. Sau khi đến Khai Phong, Diêu Bình Trọng được Tống Khâm Tông triệu kiến. Hoàng đế hứa rằng nếu lập được công lớn, sẽ phong làm Tiết độ sứ. Diêu Bình Trọng vì thế mà nóng lòng muốn lập công, dẫn một vạn quân đi tập kích doanh trại quân Kim, kết quả là thảm bại mà về.
Chủng Sư Đạo lại hiến kế rằng: “Tập kích đã hỏng, nhưng dùng binh phải biết xuất kỳ bất ý. Đêm nay nếu lại chia quân nhiều đường để đánh úp, sẽ khiến địch bất ngờ. Nếu vẫn chưa thắng, thì mỗi đêm dùng vài nghìn quân để quấy nhiễu, không quá mười ngày, quân địch tất sẽ tự lui.” Đây cũng là một diệu kế. Thế nhưng Khâm Tông cùng Lý Bang Ngạn lại nhu nhược, không dám làm theo.
Nhân đó, nước Kim sai người đến trách tội. Tống Khâm Tông sợ hãi, bèn bãi miễn chức vụ của Lý Cương, mong lấy đó để làm nguôi giận quân Kim.
Khi tin tức ấy truyền ra, quân dân toàn thành chấn động, lòng người sôi sục. Thái học sinh Trần Đông dẫn theo mấy trăm người quỳ dưới cửa Tuyên Đức môn, dâng sớ can gián rằng: “Lý Cương dốc lòng tận lực, không tiếc thân mình, gánh vác trọng trách thiên hạ, chính là bậc xã tắc chi thần. Còn Lý Bang Ngạn, Bạch Thời Trung, Trương Bang Xương, chẳng những bất tài vô dụng, lại còn đố kỵ hiền tài, không vì quốc gia mà nghĩ, mà chỉ lo cho lợi ích riêng — chúng chính là xã tắc chi tặc. Thắng bại vốn là lẽ thường của binh gia, sao có thể chỉ vì một lần thất bại mà bãi miễn bậc trung thần trụ cột? Bọn gian thần Lý Bang Ngạn tất sẽ chủ trương cắt đất cầu hòa. Một khi dâng nộp Thái Nguyên, Hà Gian, Trung Sơn, thì chẳng khác nào tự tay vứt bỏ toàn bộ vùng phía bắc Hoàng Hà. Mà đã mất đất bắc Hà, Khai Phong lại nằm ngay phía nam Hoàng Hà, vậy quốc gia còn có thể an định đô thành ở đó sao? Huống hồ, sau khi cắt đất, ai dám đảm bảo người Kim sẽ giữ lời, ai dám đảm bảo người kim sẽ không bội ước? Vì vậy, xin bệ hạ hãy tin dùng Lý Cương, đồng thời giao quyền chỉ huy chiến sự cho Chủng Sư Đạo. Sự tồn vong của tông miếu xã tắc, chỉ trong một lần quyết định này!”
Tấu chương của Trần Đông đã nói trúng nỗi lòng của muôn dân. Khi ấy, quân dân tự phát tụ tập, yêu cầu triều đình phục chức cho Lý Cương và Chủng Sư Đạo, số người đã lên tới mấy vạn.
Khi Lý Bang Ngạn tan triều bước ra, mọi người đều căm phẫn hắn đã hại nước hại dân, lại còn chủ trương đầu hàng. Rất nhiều người đồng loạt chửi mắng, thậm chí có ý định xông vào đánh. Lý Bang Ngạn nhanh chân lẹ mắt, vội vàng chạy thoát.
Tống Khâm Tông thấy lòng dân sục sôi như vậy, đành hứa cho Lý Cương được phục chức. Nhưng khi quân dân chuẩn bị giải tán, lại có người nói: “Ai biết có phải chỉ là lừa chúng ta cho qua chuyện hay không? Phải tận mắt thấy Lý Cương và Chủng Sư Đạo thực sự được phục chức, chúng ta mới rời đi.”
Đúng lúc ấy, Ngô Mẫn đứng ra thay Khâm Tông tuyên bố rằng: “Lý Cương vì dụng binh thất bại nên bị bãi chức, đợi khi người Kim rút lui rồi sẽ cho phục chức”. Lời ấy vừa dứt, quân dân phẫn nộ bùng lên, họ kéo đến đánh trống Đăng Văn — đây là loại trống mà người dân được dùng để kêu oan. Lần này họ đánh đến nỗi trống cũng vỡ nát, tiếng hô vang dậy khắp nơi.
Khi ấy, Khai Phong phủ doãn – Vương Thời Ung đi ngang qua, quát lớn với đám Thái học sinh rằng: “Sao các ngươi dám uy hiếp thiên tử? Còn không mau lui xuống!”
Thái học sinh đáp lại: “Lấy trung nghĩa mà uy hiếp thiên tử, chẳng phải còn hơn để gian nịnh uy hiếp hay sao?” Rồi họ định xông lên đánh Vương Thời Ung, khiến ông ta ôm đầu bỏ chạy.
Tống Khâm Tông rơi vào thế bất đắc dĩ, đành lập tức cho Lý Cương và Chủng Sư Đạo phục chức. Khi hai người mặc triều phục bước ra, dân chúng reo hò vang dội, khi ấy họ mới chịu giải tán.
Lúc ấy, thống soái đông lộ quân của nước Kim là Tông Vọng, đã nhận ra rằng việc công phá Khai Phong hầu như không còn có thể thắng. Mà nếu cứ dây dưa ở đây, e rằng chính mình sẽ phải bỏ mạng. Vì vậy, Tông Vọng sai sứ giả đến gặp Tống Khâm Tông, tuyên bố từ bỏ các điều kiện đòi bồi thường khắt khe trước đó, nhưng yêu cầu Khâm Tông hạ chiếu cắt nhượng “tam trấn”, đồng thời đưa Túc vương Triệu Xu sang nước Kim để làm con tin. Và Tống Khâm Tông đã lập tức đồng ý.
Sau khi nhận được chiếu thư, quân Kim rút về phương bắc. Đến đây, vòng vây Khai Phong đã được giải tỏa, kinh thành tạm thời thoát khỏi nguy cấp.

