Khi Huyền Trang sang Tây phương thỉnh kinh, ông đã thúc đẩy mạnh mẽ sự giao lưu văn hóa giữa Trung Quốc và Thiên Trúc. Trong năm bộ của Thiên Trúc lúc bấy giờ, cường thịnh nhất là Trung Thiên Trúc, nơi này do Giới Nhật vương trị vì. Vào cuối thời Tùy, đầu thời Đường, Giới Nhật vương liên tục dẫn quân chinh phạt, mở rộng thế lực.
Người Ấn Độ khi giao chiến thường cưỡi voi, trong Tân Đường thư có ghi rằng: “Voi không rời yên, quân không cởi giáp, theo đó mà chinh phạt bốn phương Thiên Trúc, khiến tất cả đều quay về bắc mà thần phục.” Tức là Giới Nhật vương đã trở thành minh chủ của liên minh các quốc gia vùng Thiên Trúc.
Khi Huyền Trang đến nước của Giới Nhật vương, nhà vua hỏi ông rằng: “Quốc quân của quý quốc là bậc thánh nhân, đã soạn khúc Tần Vương phá trận nhạc. Xin hãy kể cho ta nghe về con người của ngài.”
Thế là Huyền Trang đã kể lại sơ lược về sự thần võ của Đường Thái Tông, về cách ông đã bình định loạn lạc, khiến tứ di khâm phục, trong nước quy thuận. Giới Nhật vương nghe xong thì vui mừng và nói: “Ta sẽ hướng về phương Đông mà bái lạy ngài ấy.”
Năm Trinh Quán thứ 15, Giới Nhật vương phái sứ giả dâng thư sang Đại Đường. Đường Thái Tông bèn phái Vân Kỵ úy Lương Hoài Kính mang phù tiết sang nước Thiên Trúc, để gặp Giới Nhật Vương.
Giới Nhật vương nghe tin sứ giả Đại Đường đến thì vô cùng kinh ngạc, ông liền tự mình ra nghênh đón, cúi lạy tiếp nhận chiếu thư, rồi cung kính đội lên đỉnh đầu. Sau đó, ông lại cử sứ thần đi theo đoàn để sang yết kiến triều Đường.
Đường Thái Tông tiếp tục phái Vệ úy thừa Lý Nghĩa Biểu sang đáp lễ. Giới Nhật vương phái đại thần ra tận ngoại thành nghênh tiếp, dân chúng trong thành nô nức kéo ra xem, dọc đường đốt hương nghênh khách. Nhà vua cùng bá quan văn võ hướng về phương Đông mà tiếp nhận chiếu thư, rồi dâng các sản vật địa phương làm cống phẩm. Nhà Đường cũng tặng rất nhiều quà đáp lễ.
Năm Trinh Quán thứ 22, Đường Thái Tông lại cử Vương Huyền Sách, trưởng sử của Hữu Vệ Suất phủ, dẫn đầu đoàn sứ giả sang nước Thiên Trúc. Nhưng khi Vương Huyền Sách còn chưa đến nơi, Giới Nhật vương đã băng hà, quốc gia rơi vào hỗn loạn. Đại thần A La Na Thuận đã tự lập làm vua, rồi dẫn quân tấn công Vương Huyền Sách.
Lúc ấy, đoàn tùy tùng của Vương Huyền Sách chỉ có mấy chục kỵ binh, giao chiến bất lợi, thế là toàn bộ bị bắt. Các bảo vật mà đoàn sứ giả mang theo, đã đều bị A La Na Thuận cướp lấy. Vương Huyền Sách nhân lúc nửa đêm mà trốn thoát, ông chạy đến biên giới nước Thổ Phồn. Khi đó, quốc vương Thổ Phồn chính là Tùng Tán Cán Bố, Thổ Phồn là một quốc gia vô cùng hùng mạnh ở Tây Tạng, có quan hệ hữu hảo với Đại Đường.
Tùng Tán Cán Bố biết được tin này, ông gấp rút phái 1200 tinh binh Thổ Phồn, còn nước Nê Bà La (tức Nepal ngày nay) cũng phái thêm 7000 kỵ binh đến để giúp sức. Toàn bộ hơn 8000 quân được giao cho Vương Huyền Sách chỉ huy.
Vương Huyền Sách vốn là thủ lĩnh cấm vệ quân của Đông Cung, ông cũng có tài năng chiến trận. Khi ấy, Vương Huyền Sách dẫn hơn 8000 kỵ binh tiến đánh Trung Thiên Trúc, đánh thẳng vào kinh đô.
Mặc dù nội bộ đang rối bời, nhưng A La Na Thuận vẫn huy động quân đội phòng thủ.
Trong 3 ngày giao chiến, Vương Huyền Sách chỉ huy đại quân công phá thành trì, chém hơn 3000 người, khiến hơn một vạn quân giặc bị dìm chết. A La Na Thuận vội bỏ chạy, sau đó cố gắng thu gom tàn quân để phản công lần nữa, nhưng bị Tưởng Sư Nhân bắt sống. Khi ấy, Tưởng Sư Nhân là phó tướng cùng đi sứ với Vương Huyền Sách.
Những tàn quân còn lại hộ tống vợ con của A La Na Thuận bỏ chạy đến bờ sông Ấn. Tưởng Sư Nhân dẫn quân truy kích, đại phá quân địch, bắt được vương phi, vương tử cùng 12.000 nam nữ, thu được 30.000 gia súc, và có tới 580 thành ấp xin đầu hàng.
Sứ giả của Đại Đường đã đánh bại được Trung Thiên Trúc, là một quốc gia mạnh nhất ở Ấn Độ lúc bấy giờ. Biết được tin này, vua Thi Cưu Ma của Đông Thiên Trúc đã dâng 30.000 con bò và ngựa để tặng cho quân đội của Vương Huyền Sách. Các nước khác cũng dâng cống phẩm cho sứ giả nhà Đường.
Vương Huyền Sách áp giải A La Na Thuận về Đại Đường, tâu báo chiến thắng với Đường Thái Tông. Trận này không dùng đến một binh một tốt nào của Đại Đường mà vẫn đánh bại được Trung Thiên Trúc, Vương Huyền Sách quả là tài ba. Ông không chỉ giỏi cầm quân, mà còn là một chuyên gia ngoại giao, chỉ có người thông hiểu ngôn ngữ của các quốc gia, thì mới có thể chỉ huy đại quân một cách linh hoạt tới như vậy.
Đường Thái Tông đã thăng chức cho Vương Huyền Sách, ban cho chức Triều tán đại phu, phẩm cấp ngũ phẩm.
Thời Trinh Quán, nhà Đường có sự nghiệp hiển hách, thanh thế vang xa đến cả các nước Ấn Độ. Trong khi Đường Thái Tông liên tục phái quân chinh chiến bốn phương, ông vẫn đồng thời kiến lập được một thời đại thịnh trị: kinh tế phồn vinh, xã hội ổn định, quan lại liêm khiết, pháp luật khoan hòa.
Từ khi đăng cơ, Đường Thái Tông phải tiếp nhận một đất nước tàn tạ sau chiến tranh, cục diện rối ren, đất nước thương tích chồng chất. Vậy mà ông vẫn có thể xây dựng được một thời đại rực rỡ, giúp đất nước nhanh chóng tiến vào thời thịnh trị.
