Từ khi đăng cơ, Đường Thái Tông phải tiếp nhận một đất nước tàn tạ sau chiến tranh, cục diện rối ren, đất nước thương tích chồng chất. Vậy mà ông vẫn có thể xây dựng được một thời đại rực rỡ, giúp đất nước nhanh chóng tiến vào thời thịnh trị.
Trinh Quán chi trị đã trở thành một thời thịnh trị mẫu mực bậc nhất trong toàn bộ lịch sử Trung Hoa. Những biện pháp trị quốc của Đường Thái Tông đã trở thành sách ‘gối đầu giường’ của của những bậc quân vương thời sau. Cách trị quốc của ông được ghi chép trong hai tác phẩm là Trinh Quán Chính Yếu và Đế Phạm.
Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng điểm lại văn trị và võ công của Đường Thái Tông, để tìm hiểu về huyền cơ tạo nên một vị hoàng đế kiệt xuất bậc nhất trong sử sách Trung Hoa.
Trong lịch sử tới thời nhà Đường, có 3 vị hoàng đế nổi tiếng tài năng, đó là Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế, và Đường Thái Tông. Ba vị này đều là bậc anh hùng hào kiệt, có công lớn mở mang bờ cõi. Thế nhưng chiến công của Tần Thủy Hoàng và Hán Vũ Đế đều phải trả giá bằng sự tiêu hao khổng lồ về tài lực và vật lực. Trong chương Tần Hoàng Hán Vũ, chúng tôi đã dành trọn một tập để nói về chính sách kinh tế của Hán Vũ Đế.
Khi Hán Vũ Đế lên ngôi năm 141 TCN, ông được thừa hưởng khối tài phú khổng lồ, tích lũy suốt bốn mươi năm trong thời Văn Cảnh chi trị. Thế nhưng đến năm 119 TCN, sau khi chiến dịch Mạc Bắc kết thúc, toàn bộ kho tàng quốc gia đã bị tiêu hao sạch sẽ, triều đình thiếu ngân sách một cách trầm trọng. Về sau, nhà Hán phải dựa vào hàng loạt biện pháp cải cách tài chính của Tang Hồng Dương, thì mới có thể miễn cưỡng duy trì các cuộc chiến bên ngoài và vận hành bộ máy chính quyền. Gánh nặng đối với dân chúng khi ấy là vô cùng nặng nề.
Trước đó, Tần Thủy Hoàng không ngừng xuất quân chinh chiến, mở rộng biên cương, điều này cũng đã tạo ra một sức ép tài chính to lớn cho quốc gia, kết quả là Đại Tần chỉ truyền được hai đời rồi sụp đổ.
Thời Tần Thủy Hoàng mở rộng biên cương, thuế mà dân thường phải gánh là khoảng một nửa sản lượng, tức khoảng 50%. Vì vậy, việc nhà Tần chỉ truyền được đến đời thứ hai rồi sụp đổ, cũng có liên hệ trực tiếp với tốc độ bành trướng quá nhanh của đế quốc.
Đến thời Hán Vũ Đế, triều đình mở các cuộc chiến tranh liên miên, đánh bại Hung Nô phương Bắc. Nhưng gánh nặng đối với người dân cũng vô cùng áp lực.
Khi Hán Vũ Đế lên ngôi, ông được thừa hưởng khối tài phú vô cùng khổng lồ, được tích lũy trong suốt bốn mươi năm trong thời Văn Cảnh chi trị.
Còn khi Đường Thái Tông lên ngôi, ông không được may mắn như Hán Vũ Đế, đất nước khi ấy thật tàn tạ, tài chính cạn kiệt, dân số suy giảm nghiêm trọng. Người dân đã phải chịu mấy chục năm áp bức của Tùy Dạng Đế, lại thêm chiến tranh liên miên! Mặc dù Đường Thái Tông đã thống nhất Trung Hoa, nhưng cục diện mà ông phải đối mặt khi ấy là không hề dễ dàng.
Trong “Tư Trị Thông Giám” quyển 193 kể lại như sau:
Năm đầu tiên Đường Thái Tông trị vì, vùng Quan Trung xảy ra nạn đói, một đấu gạo đổi một tấm lụa. Năm thứ hai thiên hạ gặp nạn châu chấu, năm thứ ba lại gặp đại hồng thủy. Hoàng thượng ra sức chăm lo cho dân, dù dân đói phải tha phương cầu thực, nhưng vẫn không ai oán thán.
Đến năm Trinh Quán thứ 4, quốc lực mới dần phục hồi. Năm ấy, thiên hạ được mùa lớn, dân phiêu tán đều trở về quê cũ, một đấu gạo chỉ tốn ba bốn tiền, suốt năm chỉ có hai mươi chín án tử hình, từ phía đông đến biển, phía nam đến tận Ngũ Lĩnh, người dân không cần đóng cửa, người đi đường không phải mang lương thực, vì dọc đường đều có thể được người khác nhiệt tình chu cấp.
Một cảnh tượng thái bình thịnh trị diễn ra, xã hội an hòa mà trật tự, đạo đức người dân được nâng cao.
Người xưa có câu rằng: “Nghèo đói sinh trộm cắp, no ấm sinh dục vọng”. Nghĩa là khi con người ăn không đủ no, mặc không đủ ấm thì họ rất dễ phạm tội. Thế nhưng dưới sự trị vì của Đường Thái Tông, dù đã trải qua ba năm liền thiên tai, nhưng “suốt một năm chỉ có hai mươi chín án tử hình”, điều này cho thấy mức độ đạo đức tổng thể của xã hội khi ấy là rất cao.
Chỉ hơn hai tháng sau khi lên ngôi, Đường Thái Tông đã cùng quần thần bàn luận vấn đề làm sao để ngăn chặn trộm cướp. Có người đề nghị phải dùng luật pháp thật nghiêm khắc để trừng trị và răn đe. Thế nhưng phản ứng của Thái Tông khi ấy chỉ gói gọn trong hai chữ: “sẩn chi” – tức là ông mỉm cười với vẻ coi thường, có ý chê trách.
Đường Thái Tông nói rằng: “Sở dĩ người dân trở thành đạo tặc, là vì sưu thuế quá nặng, quan lại tham lam, chính sự không trong sạch). Người dân đói rét đến không đủ ăn mặc, nên mới bất chấp liêm sỉ. Vậy nên, Trẫm phải bỏ xa xỉ, giảm chi phí, nhẹ sưu thuế, chọn dùng quan lại liêm chính. Khi dân có ăn có mặc đủ đầy thì tự khắc sẽ không còn trộm cướp, cần gì phải đặt ra hình pháp nặng nề?”
Đường Thái Tông không đổ lỗi cho dân khi họ làm kẻ trộm, ông đã tự xem xét lại bản thân. Ông đặt ra những câu hỏi như: liệu triều đình có thu thuế quá nặng không, quan lại có hà hiếp, khiến người dân không thể sống nổi hay không. Đây chính là điểm độc đáo lớn trong tư tưởng trị quốc của Đường Thái Tông.
Vì vậy, Đường Thái Tông quyết định tự mình làm gương, ông sống thanh đạm tiết kiệm. Khi hoàng đế tiết chế chi tiêu, tự nhiên thuế khóa sẽ nhẹ, lại thêm việc tuyển chọn quan lại thanh liêm, không bóc lột dân, thì đời sống của người dân sẽ dần dư giả, và đã dư giả thì tất nhiên sẽ không ai còn phải đi làm giặc.
Đường Thái Tông còn nêu ra một ví dụ hết sức thấm thía. Ông cho rằng nếu bắt dân chịu khổ cực để phụng dưỡng quân chủ, thì chẳng khác nào là “cắt thịt để nhét vào bụng”. Khi cái bụng được ăn no thì người bị cắt thịt cũng đã chết rồi. Một quốc gia suy vong, họa lớn nhất chính là từ dục vọng của hoàng đế quá nặng. Vua muốn ăn ngon, mặc đẹp, xây cung điện, du ngoạn khắp nơi – mà tiền bạc từ đâu ra? Chỉ có thể vơ vét từ chính thân thể của dân chúng.
Đường Thái Tông nói: nếu dân không sống nổi, thì sẽ trở thành đạo tặc. Vì vậy, trẫm phải bỏ xa xỉ và giảm chi tiêu, trẫm phải trở thành một minh quân tiết kiệm.
Để giảm gánh nặng cho dân, Đường Thái Tông nỗ lực thu hẹp bộ máy quan lại. Ông nói với Phòng Huyền Linh rằng: “Quan trọng là chọn đúng người, không phải là đông người.” Do đó, ông ra lệnh cho Huyền Linh sáp nhập các cơ quan, chỉ giữ lại tổng cộng 643 quan viên văn võ trong toàn bộ triều đình.
Trong “Tư Trị Thông Giám” quyển 192 có viết rằng: năm Trinh Quán thứ 2, vùng Quan Nội gặp hạn hán. Dân nghèo vì thiếu ăn thiếu mặc, đành phải bán con để sinh tồn. Đường Thái Tông nghe tin, ông vội lấy tiền trong kho riêng của mình để chuộc những đứa trẻ đó, rồi trao trả lại cho cha mẹ chúng.
Sau đó, Đường Thái Tông ban chiếu đại xá thiên hạ, nội dung đại ý nói rằng: nếu năm nay được mùa, thiên hạ yên bình, thì dù toàn bộ tai ương đổ lên người trẫm để muôn dân bách tính được sống, trẫm cũng cam lòng.
Đúng lúc chiếu chỉ ban xuống thì hạn hán giảm bớt, dân chúng đều vui mừng.
Một lần khác, quốc gia gặp nạn châu chấu. Đường Thái Tông lo lắng mà không biết nên làm thế nào, đúng lúc ông thấy trong vườn có châu chấu, liền tóm lấy vài con. Đường Thái Tông nói rằng: “Dân lấy ngũ cốc làm lương thực, vậy mà các ngươi lại ăn hết lúa mạch của dân. Ta thà để các ngươi ăn gan phổi của ta.” Nói rồi, ông muốn nuốt những con châu chấu đó. Quần thần hoảng hốt can ngăn rằng: làm vậy sẽ mắc bệnh nặng. Đường Thái Tông đáp: “Trẫm nguyện thay muôn dân chịu tai ương, sao lại sợ bệnh tật.” Rồi ông nuốt châu chấu.
Năm đó, nạn châu chấu quả nhiên chấm dứt.
Mỗi khi gặp thiên tai, Đường Thái Tông đều nghiêm khắc tự xem xét lại xem việc trị quốc của mình, xem có điều gì sơ suất hay không. Có một năm gặp hạn hán, Trung thư xá nhân Lý Bách Dược dâng thư tâu rằng: những năm trước tuy có cho một số cung nữ được xuất cung để trở về dân gian, nhưng thần nghe rằng trong cung của Thái thượng hoàng và của bệ hạ vẫn còn rất nhiều cung nữ vô sự, chỉ tốn lương thực và tiền bạc nuôi dưỡng; hơn nữa âm khí tích tụ cũng có thể khiến trời hạn hán.
Đường Thái Tông đồng ý, ông cho rằng: những nữ nhân ấy phải sống trong thâm cung, quả thật rất đáng thương. Ngoài việc quét dọn cung điện thì cũng chẳng có việc gì, chi bằng cho họ trở về dân gian, để họ tự do sinh sống.
Ngay sau đó, ông ra lệnh kiểm tra sổ sách, và tổng cộng hơn ba nghìn cung nữ được cho xuất cung.
Tấm lòng yêu dân của Đường Thái Tông còn thể hiện rõ trong những lần ông mở mang bờ cõi. Đường Thái Tông luôn đặc biệt chú ý không để chiến sự ảnh hưởng đến sinh kế của bách tính. Khi Đột Quyết dẫn quân tới cầu ở sông Vị Thủy, Đường Thái Tông đã thấy rõ cơ hội để đánh bại Đột Quyết, nhưng ông cho rằng nếu khai chiến mà không thể kết thúc nhanh chóng, thì dân chúng sẽ phải chịu cảnh cơ cực lâu dài. Vì vậy, Đường Thái Tông đã bỏ qua cơ hội này, ông muốn chờ đợi một thời cơ tốt hơn.
Quả nhiên bốn năm sau, Lý Tĩnh chỉ dùng ba nghìn kỵ binh mà có thể đột kích đánh thẳng vào vương đình của Đột Quyết, và chỉ hơn một tháng đã đánh bại Đông Đột Quyết. Từ đó, Đột Quyết hòa hảo với nhà Đường, không dẫn quân cướp bóc vùng biên giới nữa.
