Tập 92: Đường Thái Tông anh minh sáng suốt, nhà Đường bước vào thời Trinh Quán chi trị

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 27/02/2026

Vào thời Trinh Quán, nhà Đường rất chú trọng các phương diện văn trị, giáo dục và thiết lập cơ chế kiềm chế quyền lực. Chúng ta biết rằng Nho gia chủ trương dùng văn đức để giữ thiên hạ thái bình, đồng thời coi trọng giáo hóa đạo đức, chỉnh lý kinh điển và phổ cập giáo dục. Trong đạo trị quốc, Đường Thái Tông đưa ra nhiều phương pháp có điểm tương đồng với tư tưởng Nho gia. Nho gia không đề xướng việc dùng hình phạt khắc nghiệt, và cũng tránh xa những thủ đoạn hiểm trá như của Pháp gia. 

Đường Thái Tông chủ trương đặt ra pháp luật dựa trên nguyên tắc khoan hậu và giản ước, không làm luật quá nghiêm khắc, mà cũng không chất chồng hình phạt. Đến năm Trinh Quán thứ 11, hoàng đế giao cho Phòng Huyền Linh cùng các cơ quan pháp luật bắt đầu soạn thảo luật pháp một cách chặt chẽ, soạn ra bộ Trinh Quán Luật. Thời bấy giờ, phong tục xã hội rất thuần hậu, người dân đều trọng nghĩa và biết giữ lễ.

Trong Tân Đường thư, quyển 56 chép rằng: Vào năm Trinh Quán thứ 6, cả nước có 390 người phạm tội nặng và bị kết án tử hình. Đường Thái Tông cho gọi tất cả tử tù tới và nói rằng: Các ngươi hãy trở về quê nhà, hãy trân trọng những tháng ngày còn lại, trở về bên gia đình. Đến mùa thu năm sau, hãy quay lại để thi hành bản án.

Mọi tù nhân đều ngỡ ngàng trước sự nhân từ của hoàng đế, họ vội tạ ơn rồi cùng nhau trở về quê cũ. Khi đến kỳ hạn năm sau, cả 390 người đều quay lại đầy đủ, không một ai bỏ trốn. Đường Thái Tông cảm phục đức tín nghĩa của họ, ông ra lệnh đặc xá toàn bộ. 

Đây là một câu chuyện vô cùng cảm động. Những kẻ phạm tội nặng và bị kết án tử hình, xét theo lý mà nói là đã rơi xuống đáy xã hội. Vậy mà dưới thời Đường Thái Tông, ngay cả những con người đã bước đến lằn ranh cuối cùng như thế, mà vẫn có thể giữ trọn chữ tín, dù cho cái giá phải trả chính là quay trở lại để nhận cái chết.

Đường Thái Tông là người vô cùng khoan hậu. Trong Tân Đường thư quyển 56 có ghi lại một câu chuyện rằng: Có một lần, Đường Thái Tông xem một bức họa châm cứu treo trên tường, trong đó vẽ các huyệt vị và sơ đồ giải phẫu của cơ thể người. Ông để ý thấy rằng ngũ tạng của con người đều nằm sát phía sau lưng, nếu kim châm cứu đâm sai vị trí, hoàn toàn có thể làm người ta chết ngay.

Từ đó, Đường Thái Tông ngẫm về những hình phạt đối với tội nhân mà nhà Đường đang áp dụng, một người phạm tội có thể bị đánh bằng trượng, tức là dùng gậy mà đánh vào vùng lưng.

Vào thời nhà Đường, khi một người phạm tội, thì tùy theo mức độ nặng nhẹ, có thể bị phạt ngũ hình. Ngũ hình là 5 hình phạt, bao gồm: ‘Si’ là đánh bằng roi nhỏ, ‘Trượng’ là đánh bằng gậy, ‘Đồ’ là giam vào nhà lao, ‘Lưu’ là lưu đày, và nếu tội quá nặng, thì sẽ là án Tử, tức là tử hình.

Đường Thái Tông cảm thán rằng: Trong ngũ hình của pháp luật, thì trượng hình vốn được xem là hình phạt nhẹ, nhưng nếu đánh vào lưng thì có thể làm chết người. Vì vậy, ông hạ chiếu rằng: Từ nay về sau, đánh trượng không được đánh vào lưng, chỉ được đánh từ phần mông trở xuống. Đây cũng là một biểu hiện cho thấy Đường Thái Tông đặc biệt trân trọng sinh mệnh con người.

Đường Thái Tông hiểu rằng mạng người là quan trọng, và ông Trời luôn có đức hiếu sinh. Đến năm Trinh Quán thứ 5, Đường Thái Tông hạ chiếu quy định rằng: Những vụ án tử hình ở kinh thành phải tấu trình lại năm lần, còn ở các địa phương thì phải tấu trình lại ba lần. Nghĩa là, trước khi hoàng đế phê chuẩn bản án tử hình bằng bút son, bên cạnh phải có người đứng ra cầu xin cho phạm nhân từ ba đến năm lần, các vị quan chủ thẩm đều phải nghe và phản hồi. Nếu sau tất cả các lần can gián mà hoàng đế vẫn kiên quyết, thì mới được thi hành.

Ngoài ra, quy trình tấu trình phải có khoảng thời gian giãn cách, để tránh việc hoàng đế vì cảm xúc nhất thời mà đưa ra quyết định sai lầm. Đến ngày xử tử phạm nhân, trong bữa ăn của hoàng đế không được có rượu và thịt, và trong cung không được tấu nhạc. Đây là những cách mà Đường Thái Tông tự đặt ra để răn mình, luôn giữ tâm kính trọng sinh mệnh mỗi khi phải đưa ra quyết định liên quan đến sinh mạng con người.

Tất nhiên, lòng nhân ái của Đường Thái Tông không phải là thứ nhân từ vô độ. Bởi vì người phạm tội thì vẫn phải chịu trừng phạt, để cảnh báo cho kẻ khác đừng làm theo, và cũng là để lấy lại công lý cho những người bị hại.

Có lần, Đường Thái Tông nói với các đại thần rằng: Từ xưa có câu, đại xá thiên hạ là vận may của kẻ tiểu nhân, nhưng lại là nỗi bất hạnh của người quân tử. Nếu trong một năm mà nhiều lần đại xá, thì người tốt sẽ không dám cất tiếng. Cỏ dại mà được nuôi dưỡng, tất sẽ làm hại mùa màng, tha thứ cho kẻ có tội, tức là gây hại cho lương dân. Vì thế, từ khi trẫm lên ngôi, trẫm không muốn thường xuyên ban đại xá, sợ rằng bọn tiểu nhân lại nuôi chí may rủi mà coi thường pháp luật.

Do đó, ta thấy rằng Đường Thái Tông xử lý với thái độ khoan dung, nhưng có chừng mực, không cực đoan, không phải kẻ vô nguyên tắc.

Bản thân Đường Thái Tông ngày đêm cần mẫn, chăm lo việc chính sự, khiến cho bộ máy hành chính của triều đình vận hành rất hiệu quả. Ông từng nói với Bùi Tịch rằng: “Ngày nay có nhiều người dâng sớ nghị luận. Trẫm đều dán tên của họ lên tường, mỗi lần ra vào đều nhìn một lượt, suy ngẫm những đạo lý trị quốc trong đó, thường đến nửa đêm mới ngủ. Mong các khanh cũng chăm lo chính sự, đừng phụ tấm lòng của trẫm.”

Đường Thái Tông luôn lưu tâm đến đạo trị quốc. Có lần ông nói với Tiêu Vũ rằng: “Từ thuở thiếu niên, trẫm rất thích cung tên, trong tay có hơn chục cây cung tốt. Nhưng khi trẫm đưa chúng cho thợ làm cung xem, họ lại bảo rằng những cây cung ấy không phải loại xuất sắc. Trẫm hỏi vì sao, họ đáp: vân gỗ đều bị lệch, bắn ra thì lực vẫn mạnh, nhưng đường tên sẽ không thẳng. Trẫm dùng cung tên để bình định bốn phương, mà ngay trong chuyện cung tên cũng còn nhiều đạo lý mà trẫm chưa biết hết. Huống hồ thiên hạ muôn việc, sao trẫm có thể hiểu trọn?”

Từ một câu chuyện nhỏ như vậy, Đường Thái Tông tự nhận thấy mình còn rất nhiều điều cần học hỏi và suy ngẫm. Vì thế ông ra lệnh: tất cả quan lại từ ngũ phẩm trở lên ở kinh thành phải luân phiên trực đêm tại Trung Thư tỉnh, để hoàng đế có thể thường xuyên triệu kiến, hỏi về nỗi khổ của người dân và việc được mất của chính sự.

Đường Thái Tông nói: “Những người tiếp xúc với dân nhiều nhất, liên quan trực tiếp đến nỗi khổ của dân, chính là các quan Đô đốc và Thứ sử ở địa phương.” Vậy nên, ông thường viết tên của họ lên bình phong, khi ngồi hay nằm đều nhìn qua danh sách ấy, rồi ghi chú lại những việc thiện hoặc việc xấu mà họ đã làm trong năm, để quyết định thăng chức hay giáng chức.

Còn chức quan Huyện lệnh là người gần dân nhất, nên càng phải tuyển chọn thận trọng. Do đó, Đường Thái Tông hạ lệnh yêu cầu tất cả quan viên trong và ngoài triều từ ngũ phẩm trở lên phải đề cử những người có thể đảm nhiệm chức Huyện lệnh.

Đường Thái Tông trong việc quản lý quan lại là luôn quang minh chính đại, vừa tin tưởng lại vừa ràng buộc họ bằng nguyên tắc, tuyệt không dùng đến những mánh lới quyền thuật như kiểu Pháp gia. Một hôm, có người dâng tấu thư khuyên Đường Thái Tông nên tránh xa bọn tiểu nhân nịnh hót. Đường Thái Tông hỏi: “Vậy ai là bọn tiểu nhân nịnh hót?” Người ấy đáp: “Xin bệ hạ khi bàn việc với quần thần, hãy giả vờ nổi giận. Ai còn dám dựa vào đạo lý mà tranh biện thì đó là người trung trực, ai vì sợ uy nghi của bệ hạ mà chỉ biết phụ họa thì chính là kẻ gian nịnh.”

Đó chính là phương pháp trị quốc mang âm hưởng từ học thuyết Pháp gia.

Đường Thái Tông nói: “Quân vương là nguồn của dòng nước, các đại thần là những nhánh chảy. Nguồn nếu đã đục, mà mong dòng phải trong, điều đó không thể có. Trẫm mà dùng những mánh khóe lừa dối như thế, thì còn tư cách gì để yêu cầu bề tôi giữ sự ngay thẳng?”

Rồi ông nói tiếp: “Trẫm lấy lòng thành mà trị thiên hạ. Thấy các bậc đế vương đời trước ưa dùng quyền thuật nhỏ nhặt để thử thách hạ thần, trẫm vẫn thường thầm lấy đó làm điều đáng hổ thẹn. Kế của khanh tuy có vẻ hay, nhưng trẫm không dùng.”

Đó chính là phong độ của một minh quân: lấy chính tâm mà cảm hóa, chứ không dùng mưu mẹo để dò xét lòng người.

Trong những thành tựu của thời Trinh Quán chi trị, có một điểm đặc biệt được hậu thế ca ngợi nhất, đó là biết lắng nghe lời can gián. Thế nhưng theo tôi, còn phải bổ sung thêm một điều nữa, đó là biết dùng người.

Một vị quốc quân, nếu có thể chọn lựa được những nhân tài ưu tú nhất, và luôn chịu lắng nghe ý kiến của họ — kể cả những lời chói tai — thì quốc gia ấy muốn không hưng thịnh cũng khó.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Tùy Đường thịnh thế

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>