Tập 93: Đường Thái Tông trọng dụng quan can gián để không đưa ra quyết định sai lầm

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 27/02/2026

Trong suốt hai mươi ba năm của thời Trinh Quán, nhà Đường không chỉ lập nên những chiến công hiển hách, mà còn hình thành một không khí học thuật sôi nổi, pháp luật khoan giản, quan lại thanh liêm. Từ trên xuống dưới, cả hoàng đế lẫn bá quan đều chăm lo chính sự, cần kiệm thương dân. Các học giả đời sau thậm chí còn đem Đường Thái Tông sánh ngang với hai vị thánh vương Nghiêu Thuấn. Đường Thái Tông lại đặc biệt nổi danh bởi đức tính rộng mở, luôn đón nhận lời can gián.

Trong việc trị quốc, Đường Thái Tông chủ yếu dựa vào các văn thần như Phòng Huyền Linh, Đỗ Như Hối, cùng với nhóm Thập Bát Học Sĩ. Còn vai trò của Ngụy Trưng là chức gián quan – tức là người thường xuyên đưa ra ý kiến để can gián hoàng đế.

Vào năm Trinh Quán thứ hai, Đường Thái Tông hỏi Ngụy Trưng rằng: “Người đứng đầu thiên hạ, như thế nào là sáng suốt, như thế nào là hôn ám?” 

Ngụy Trưng đáp rằng: “Biết lắng nghe nhiều phía thì sáng, chỉ nghe một chiều thì tối. Thời Nghiêu Thuấn, các bậc thánh vương đều chú tâm vào lòng dân, lắng nghe khắp các luồng ý kiến, nên không bị kẻ xấu che mắt. Còn Tần Nhị Thế vì chỉ tin mỗi Triệu Cao, cuối cùng bị giết ở cung Vọng Di, Lương Vũ Đế vì quá tin Chu Dị, rồi bị Hầu Cảnh vũ nhục, Tùy Dạng Đế vì tin Ngu Thế Cơ, cuối cùng bị sát hại trong chính biến Giang Đô. Bởi vậy, một vị quân vương nếu có thể lắng nghe rộng rãi, thì quyền thần không thể che đậy điều xấu, và tiếng nói từ người dân mới có thể thông đạt lên trên”.

Thế nhưng, để hoàng đế có thể thực sự nghe được những ý kiến khác biệt lại là một việc rất khó. Bởi vì với một người bình thường khi nghe được ý kiến trái chiều, họ thường ít khi tỉnh táo mà phân tích, mà họ lại cảm thấy rằng cái tôi của họ bị xúc phạm, từ đó họ sẽ không tiếp thu. Nhưng mà Đường Thái Tông lại có khả năng tiếp thu những lời can gián, điều này xuất phát từ chính năng lực xuất chúng và sức hút cá nhân mạnh mẽ của ông.

Trước đó, sau khi đánh dẹp thế lực của Tiết Nhân Cảo, Lý Thế Dân đã không thu nạp quân đội của họ vào quân mình, mà ông còn giao trả binh quyền cho Tông La Hầu cùng các tướng dưới quyền Tiết Nhân Cảo, để họ tiếp tục chỉ huy. Sau đó, Lý Thế Dân lại còn cùng các tướng sĩ này đi săn, hoàn toàn không phòng bị. Bởi vì ông là người có phong độ hào sảng, rộng rãi, những người có thể tiếp cận hoặc được diện kiến Lý Thế Dân đều bị sức hút cá nhân của ông thuyết phục, đến mức không một ai có ý phản bội.

Điều khiến người ta kinh ngạc nhất là sau biến loạn Huyền Vũ Môn, trong hàng ngũ thuộc hạ của Thái tử Lý Kiến Thành và Tề vương Lý Nguyên Cát, có đến hàng trăm hàng ngàn người từng có mưu toan hãm hại Lý Thế Dân, thế nhưng ông vẫn thu nhận bọn họ.

Trong Trinh Quán Chính Yếu ghi rằng: sau khi biến cố được bình định, Đường Thái Tông đã “thu nhận những kẻ ấy vào bên cạnh, cho họ làm thị vệ thân cận, mở rộng lòng mình, chẳng hề nghi kỵ”. Nhờ vậy, những người đó cũng đều từ bỏ ý định hãm hại ông.

Trong sự kiện Đường Thái Tông một mình đối mặt quân Đột Quyết, chúng ta  cũng thấy cảnh tượng tương tự. Khi Đường Thái Tông xuất hiện, rất nhiều binh sĩ Đột Quyết tự động xuống ngựa, hướng về phía ông mà cúi lạy từ xa.

Một vị hoàng đế có sức hút cá nhân quá mạnh, lại dũng cảm thiện chiến, thông minh và sáng suốt như vậy, thì người thường khi đối diện ông tự nhiên sẽ không dám nói trái ý. Thậm chí có người còn lúng túng đến mức không biết tay chân phải đặt ở đâu. Bởi thế trong Tư Trị Thông Giám chép rằng: “[Hoàng] thượng thần thái anh nghị, quần thần khi vào chầu thường lúng túng đến mức thất thố. [Hoàng] thượng biết vậy, mỗi khi có ai trình tấu thì liền cố ý dịu giọng, mong nghe được lời can gián.”

Vì muốn thật sự nghe được những ý kiến khác biệt, Đường Thái Tông phải luôn hòa nhã, khích lệ các quan dám nói thẳng. Ông từng bảo với các đại thần rằng: “Muốn biết diện mạo của mình thì phải soi gương, còn một vị quân vương muốn biết mình có sai lầm hay không thì phải dựa vào trung thần. Nếu quân vương cố chấp, không chịu tiếp nhận lời can gián, còn bề tôi chỉ biết a dua, phụ họa và một mực thuận ý, thì quân vương tất sẽ đánh mất xã tắc, bề tôi rồi sẽ giữ mình bằng cách nào đây? Như Ngu Thế Cơ từng nịnh hót Tùy Dạng Đế để cầu phú quý, đến khi Tùy Dạng Đế bị sát hại, Ngu Thế Cơ cuối cùng cũng khó tránh khỏi cái chết. Vậy nên, trẫm mong các khanh lấy đó làm gương. Chính sự có gì làm đúng hay làm chưa đúng, nhất định phải nói ra cho hết, không được giấu giếm”.

Ban đầu, Đường Thái Tông trọng dụng Ngụy Trưng, cất nhắc ban cho chức Gián nghị đại phu, điều này không phải là vô cớ. Vốn dĩ Ngụy Trưng là người thuộc phe của Thái tử Lý Kiến Thành. Sau sự biến Huyền Vũ Môn, Đường Thái Tông nghe nói trước đây Ngụy Trưng là kẻ thường khuyên Thái tử tìm cách đối phó mình, ông liền trách hỏi: “Vì sao ngươi lại muốn chia rẽ tình huynh đệ của chúng ta?”

Ngụy Trưng đáp: “Nếu Thái tử làm theo lời thần, thì đã chẳng xảy ra họa ngày nay.” 

Ý tứ ẩn trong câu nói này chính là: nếu Thái tử chịu nghe theo mưu tính của Ngụy Trưng, sớm trừ khử Tần Vương, thì hôm nay người chết đâu phải là ông ta. 

Đường Thái Tông ngạc nhiên vì Ngụy Trưng dám nói thẳng đến mức ấy, hoàng đế bèn quyết định bổ nhiệm ông giữ chức gián quan.

Trong suốt cuộc đời mình, Ngụy Trưng đã dâng cho Đường Thái Tông hơn hai trăm kiến nghị, và hoàng đế hầu như đều tiếp thu. Nhìn lại những điều Ngụy Trưng can gián, phần lớn đều xoay quanh các vấn đề như tiết kiệm, giữ gìn lễ chế và pháp độ, khoan dung độ lượng.

Đường Thái Tông và Trưởng Tôn hoàng hậu có tình cảm hết sức sâu nặng. Vào năm Trinh Quán thứ mười, hoàng hậu băng hà. Đường Thái Tông thương xót khôn xiết, cho bà được hợp táng tại Chiêu Lăng – đây cũng chính là lăng tẩm tương lai của ông – để sau này vợ chồng sẽ được ở cùng nơi. Nhưng vì nỗi nhớ không nguôi, Đường Thái Tông đã cho xây trong cung một tòa lầu, để từ đó có thể trông về hướng Chiêu Lăng.

Có một lần, Đường Thái Tông mời Ngụy Trưng cùng lên lầu, rồi chỉ về phía Chiêu Lăng, hỏi Ngụy Trưng có nhìn rõ không. Ngụy Trưng cố tình làm như không thấy. Đường Thái Tông liền sốt ruột hỏi rằng: “Sao lại không thấy? Đó là Chiêu Lăng mà!” Ngụy Trưng nghe vậy thì đáp: “Thần cứ tưởng bệ hạ đang nhìn về Hiến Lăng, hóa ra lại là Chiêu Lăng. Chỉ mong bệ hạ nhìn Hiến Lăng cũng sâu nặng như nhìn Chiêu Lăng.”

Hiến Lăng là nơi an táng Đường Cao Tổ, là cha của Đường Thái Tông. Lúc này, Đường Thái Tông hiểu rằng Ngụy Trưng đang khuyên rằng: đừng vì quá thương nhớ vợ mà quên chữ hiếu với cha, chữ hiếu còn quan trọng hơn. Thế là hoàng đế rơi nước mắt mà ra lệnh dỡ bỏ tầng lầu dùng để trông về Chiêu Lăng.

Mặc dù Đường Thái Tông ngày ngày tưởng nhớ hoàng hậu có phần trái với khuôn phép lễ giáo, nhưng đó lại là sự bộc lộ chân tình của một bậc thiên tử. Chúng tôi cho rằng việc ông tiếc thương hoàng hậu như vậy cũng không phải là sai, và sau một thời gian dài, nỗi nhớ sẽ nguôi đi mà thôi.

Có lần, khi Ngụy Trưng ra ngoài làm việc trở về, ông nói với Đường Thái Tông: “Thần nghe nói bệ hạ định đến Nam Sơn, chắc là để đi săn. Bên ngoài mọi người đã chuẩn bị xong cả rồi, vậy mà bệ hạ lại không đi. Vì sao vậy?” Đường Thái Tông mỉm cười đáp: “Lúc đầu trẫm cũng muốn đi, nhưng nghĩ khanh chắc chắn sẽ không vui, nên thôi.”

Lại một lần khác, có người dâng cho Đường Thái Tông một con chim ưng giỏi săn mồi. Đường Thái Tông rất thích, để nó đậu trên cánh tay mình. Nhưng từ xa thấy Ngụy Trưng đi tới, hoàng đế sợ bị trách là ham vui mà sao nhãng chính sự, liền vội giấu con chim vào trong ngực áo. Ngụy Trưng nhìn ra ngay, rồi cố ý lải nhải không dứt. Cuối cùng, con chim ưng bị nghẹt mà chết ngay trong lòng của Đường Thái Tông.

Phần lớn mối quan hệ giữa Đường Thái Tông và Ngụy Trưng đều như vậy. Giữa họ có một cuộc bàn luận rất thú vị về khái niệm “trung thần” và “lương thần”. Khi có người tố cáo Ngụy Trưng lợi dụng quyền thế để chăm lo cho họ hàng thân thích. Đường Thái Tông bèn sai Ngự sử đại phu Ôn Ngạn Bác đi điều tra, nhưng không tìm được chứng cứ. Ôn Ngạn Bác tâu rằng: Ngụy Trưng làm việc không đủ kín đáo, không biết tránh hiềm nghi, tuy lòng không tư lợi nhưng vẫn có thể bị chê trách. Đường Thái Tông bảo Ôn Ngạn Bác truyền lời trách cứ Ngụy Trưng rằng: “Về sau làm việc cần chú ý ảnh hưởng.”

Vài ngày sau, Ngụy Trưng vào chầu và nói: “Thần nghe rằng quân thần là một thể, cần lấy thành tín để đối đãi với nhau. Nếu mọi việc đều sợ bị nghi kỵ, ai nấy cứ dè dặt, không dám nói thẳng, thì vận mệnh quốc gia khó mà bảo toàn. Vậy thần không dám phụng chiếu.” Đường Thái Tông nói: “Trẫm cũng đang hối hận vì lời nói khi trước.”

Ngụy Trưng bèn lạy hai lạy, rồi thưa rằng: “Thần may mắn được hầu bệ hạ. Thần xin được làm lương thần, chứ không muốn làm trung thần.” Đường Thái Tông rất ngạc nhiên, ông hỏi: “Trung thần và lương thần thì có khác nhau sao?”

Ngụy Trưng giải thích: “Như Tắc (quan nông nghiệp của vua Thuấn), Khế (quan thủy lợi của Đại Vũ), Cao Dao (quan tư pháp của vua Thuấn) – họ cùng quân vương một lòng làm việc, khiến xã tắc yên ổn, bản thân cũng được hưởng vinh hoa, đó gọi là lương thần. Còn như Long Bàng và Tỷ Can – họ dám đối mặt tranh luận đúng sai với hôn quân như Kiệt và Trụ, bản thân thì bị giết, quốc gia cũng diệt vong, họ là trung thần.”

Vậy nên, lương thần là người giúp vua trị quốc mà không xảy ra loạn, còn trung thần là đến khi nước mất vua vong, mới đem thân ra mà tử tiết. Ngụy Trưng cho rằng, ông muốn làm lương thần, một đời phò trợ hoàng đế, khiến thiên hạ thái bình, chứ không muốn làm trung thần như Long Bàng và Tỷ Can.

Đường Thái Tông rộng mở đón nhận lời can gián là vì ông luôn giữ một tấm lòng khiêm cung. Ông nói: “Nhiều người cho rằng thiên tử là tôn quý nhất, không sợ gì cả. Nhưng trẫm không như vậy. Trẫm trên thì kính sợ Trời, dưới thì kính sợ sự trông đợi của quần thần. Luôn luôn dè dặt cẩn trọng, chỉ sợ mình cô phụ ý Trời, lại cô phụ sự kỳ vọng của mọi người.”

Mỗi khi vào triều, trước khi muốn nói một câu, ông đều suy nghĩ thật kỹ, sợ mình quyết định điều gì không thỏa đáng sẽ khiến dân chúng phải khổ, vì vậy Đường Thái Tông thường không nói nhiều.

Quan Cấp sự ghi chép ngôn hành của hoàng đế là Đỗ Chính Luân tâu rằng: “Thần chuyên ghi lại mọi lời nói, mọi hành vi của bệ hạ. Nếu bệ hạ có nói những điều thiếu sót, thần cũng buộc phải chép lại. Như thế không chỉ hôm nay làm hại sinh dân, mà e rằng đời sau cũng sẽ lấy đó mà chê cười bệ hạ.”

Ý của Đỗ Chính Luân là nếu hoàng đế nói những điều sai sót, thì cũng sẽ phải ghi lại. Vậy nên ông nhắc Đường Thái Tông phải thật cẩn thận lời nói, không đưa ra quyết định sai để không làm tổn hại bách tính. Không nói lời sai, thì sẽ không lưu tiếng xấu cho hậu thế.

Chúng ta thấy rằng, để có thể làm hoàng đế, không phải là việc đơn giản. Đường Thái Tông luôn cẩn trọng trong từng lời nói, từng hành vi, ông sống vậy trong cả cuộc đời. Điều này không phải người bình thường có thể làm được.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Tùy Đường thịnh thế

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>