Nói về khả năng dùng người, Đường Thái Tông có thể biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của từng quan đại thần, vậy nên ông luôn biết cách sắp đặt họ vào những chức vị phù hợp nhất. Khác hẳn với Hán Cao Tổ vốn hay ngờ vực công thần, Tùy Dạng Đế ghen ghét kẻ hiền sĩ, còn Đường Thái Tông thì hết sức tin cậy những người đã lập công cho triều đình. Ông ban cho họ đãi ngộ rất trọng hậu, nhưng đồng thời cũng đặt ra những khuôn phép nghiêm minh, để họ không vì được sủng ái mà phóng túng, lấn phạm pháp độ.
Đã dùng người thì không nghi ngờ, nhưng ân và uy phải đi đôi với nhau. Nhờ vậy mà quan hệ giữa quân và thần dưới thời Đường Thái Tông là vừa chân thành thẳng thắn, lại vừa giữ trọn tôn ti trật tự.
Khi Đường Thái Tông chuẩn bị thân chinh tiến đánh Cao Ly, trước lúc đại quân xuất phát, ông giao cho Phòng Huyền Linh toàn quyền xử lý mọi việc trong triều, không cần tấu trình nữa. Sau khi hoàng đế đã rời kinh thành, có người vào triều tố cáo rằng có một vụ việc cơ mật trọng đại. Phòng Huyền Linh hỏi đó là cơ mật gì, người ấy đáp rằng muốn tố cáo… Phòng Huyền Linh mưu phản. Vì người bị tố là mình, nên để tránh hiềm nghi, Phòng Huyền Linh lập tức cho quân hộ tống kẻ tố giác ấy đến tận chỗ Đường Thái Tông để trình bày trực tiếp.
Đường Thái Tông nhận được tấu chương và biết Phòng Huyền Linh gửi đến một kẻ cáo mật, ông liền nổi giận. Hoàng đế cho võ sĩ cầm trường đao đứng thành hàng trước sân, rồi mới triệu kiến kẻ tố cáo. Đường Thái Tông lớn tiếng hỏi: “Ngươi tố cáo ai mưu phản?” Kẻ ấy run sợ mà đáp: “Là Phòng Huyền Linh.” Hoàng đế nói: “Quả nhiên đúng như trẫm dự đoán.” Và ông lập tức ra lệnh chém ngang lưng kẻ ấy.
Bởi vì theo luật pháp nhà Đường, nếu tố cáo mà không đúng sự thật thì phải chịu tội theo chính điều mình đã cáo buộc. Nghĩa là nếu vu cho người khác tội mưu phản, mà người ấy vô tội, thì chính người vu cáo phải mang tội mưu phản để chịu hình phạt. Vì vậy, Đường Thái Tông không hỏi thêm một lời, lập tức dùng tội danh mưu phản mà xử chém kẻ tố gian.
Sau đó, Đường Thái Tông gửi thư trách Phòng Huyền Linh rằng: “Sao khanh lại thiếu tự tin đến vậy? Lần sau gặp việc như thế, hãy tự mình quyết định.”
Chúng ta đều biết rằng trong nhiều triều đại, điều mà hoàng đế lo sợ nhất chính là quan đại thần mưu phản. Như Hán Cao Tổ Lưu Bang, ngay cả đối với Tiêu Hà mà cũng không hoàn toàn yên tâm. Nhưng Đường Thái Tông thì chủ trương rằng đã dùng người là không nghi ngờ.
Cũng bởi vì Đường Thái Tông tin cậy như vậy, nên các quan đại thần đều hiểu đạo lý rằng phải biết giữ mình, biết khiêm tốn và tránh để công danh vượt quá mức. Trưởng Tôn Vô Kỵ, Phòng Huyền Linh đều là những người như thế.
Trưởng Tôn Vô Kỵ là anh ruột của Trưởng Tôn Hoàng hậu, từ nhỏ đã rất thân thiết với Đường Thái Tông. Về sau, có người dâng biểu nói rằng hoàng đế đã dành cho Vô Kỵ quá nhiều quyền thế và ân sủng. Đường Thái Tông đưa tờ biểu đó cho Trưởng Tôn Vô Kỵ xem, ông nói: “Tuy ta và khanh là quan hệ quân thần, nhưng giữa chúng ta không hề có sự nghi kỵ. Nếu khanh có điều gì trong lòng mà không nói, thì quan hệ quân thần sẽ xuất hiện khoảng cách”.
Trưởng Tôn Vô Kỵ lo ngại rằng chức vị của mình quá cao, quyền lực quá lớn, cho nên đã chân thành được xin bãi chức tể tướng. Trưởng Tôn Hoàng hậu cũng khuyên hoàng đế không nên trọng dụng anh mình quá mức. Cuối cùng, Đường Thái Tông không còn cách nào khác, đành phải bãi chức Hữu bộc xạ của Trưởng Tôn Vô Kỵ, rồi xét công lao mà ban cho tước vị Khai phủ Nghi đồng Tam tư, giữ đãi ngộ tương đương, nhưng không phải trực tiếp cầm quyền.
Người xưa cho rằng ‘vật cực tất phản’, người giữ quyền thế quá lớn thì phải biết lui về giữ mình. Có lẽ đó chính là trăn trở của Trưởng Tôn Vô Kỵ.
Phòng Huyền Linh cũng có suy nghĩ tương tự như vậy. Trong Cựu Đường Thư chép rằng Phòng Huyền Linh đã giữ chức tể tướng suốt mười lăm năm. Con gái của ông được gả cho Hàn Vương, là con trai của Đường Cao Tổ; còn con trai của Phòng Huyền Linh là Phòng Di Ái thì lại cưới Công chúa Cao Dương, là con gái của Đường Thái Tông. Phòng Huyền Linh thấy mình đã đạt đến vị trí vinh hiển tột bậc, ông nhiều lần dâng biểu xin từ chức tể tướng, nhưng Đường Thái Tông đều không chấp thuận.
Về sau, Đường Thái Tông phái người nhắn lại với Phòng Huyền Linh rằng: “Khanh biết tự răn mình như Lưu Hầu Trương Lương thuở trước, biết tiến biết thoái, đó là điều rất đáng khen. Nhưng triều đình lâu nay đều dựa vào khanh để xử lý mọi việc. Nếu một mai không còn được một vị lương tướng như khanh, thì khác nào trẫm mất đi đôi tay. Nếu khanh vẫn còn khí lực, thì không cần phải nhường chức nữa”.
Vì câu nói ấy, Phòng Huyền Linh mới tiếp tục ở lại để đảm trách chức tể tướng.
Đối với những đại thần biết giữ mình, biết khiêm nhượng và biết thoái lui đúng lúc, Đường Thái Tông càng thêm nâng đỡ và tin tưởng. Còn đối với những kẻ cậy công mà sinh kiêu, hoàng đế lại đối xử cực kỳ nghiêm khắc.
Trước đây chúng tôi đã kể đến Uất Trì Kính Đức. Ông là một mãnh tướng có võ nghệ tuyệt luân, luôn dũng cảm xông pha trận mạc, lại có lòng trung thành không đổi. Thế nhưng người xưa có câu ‘nhân vô thập toàn’, không ai là hoàn hảo cả. Uất Trì Kính Đức có một tật xấu lớn, đó là thô lỗ, vô lễ và thường cậy công mà kiêu ngạo. Khi gặp Phòng Huyền Linh, Đỗ Như Hối, Trưởng Tôn Vô Kỵ và những đại thần khác, Kính Đức thường hay đường đột chế giễu họ ngay trước mặt, lại bàn luận thị phi, có lúc còn lớn tiếng tranh cãi ngay giữa triều đình, vì thế quan hệ giữa ông với mọi người đều rất tệ.
Vào năm Trinh Quán thứ sáu, Đường Thái Tông mở một buổi yến tiệc, Uất Trì Kính Đức cũng đến dự. Có một người được xếp ngồi trên, Kính Đức thấy thế liền nổi giận quát rằng: “Ngươi lập được công gì mà dám ngồi trên ta!” Thấy thế, Nhậm Thành Vương Lý Đạo Tông ngồi phía dưới đã vội khuyên ông đừng làm lớn chuyện. Nhưng lửa giận bốc lên thì khó dừng lại được, Uất Trì Kính Đức tung ngay một đấm vào mặt Lý Đạo Tông, suýt nữa làm mù mắt.
Đường Thái Tông vô cùng tức giận, ông lập tức cho giải tán yến tiệc. Sau đó, ông nói với Uất Trì Kính Đức rằng: “Trẫm đọc sử thấy Hán Cao Tổ Lưu Bang giết Hàn Tín, giết Bành Việt, lòng rất lấy đó làm điều đáng trách. Trẫm mong có thể cùng các công thần hưởng phú quý lâu dài. Nhưng nhìn biểu hiện của ngươi hôm nay, trẫm thấy cái chết của Hàn Tín và Bành Việt cũng không phải là hoàn toàn vô cớ.”
Đường Thái Tông nói tiếp: “Quyền bính của một quốc gia nằm ở thưởng và phạt. Với cương vị là hoàng đế, trẫm phải cảnh tỉnh ngươi: ân huệ vượt quá phép tắc thì không thể ban mãi. Trẫm không thể bao dung cho ngươi như thế này mãi được. Từ nay ngươi phải tự biết giữ mình, đừng làm điều gì để rồi chính ngươi phải hối hận!”
Lời răn ấy vô cùng nghiêm khắc. Kể từ đó, Uất Trì Kính Đức thu liễm rất nhiều, không còn dám buông thả như trước.
Lại còn một người tên Cao Tắng Sinh, giữ chức Diêm Trạch Đạo hành quân tổng quản. Khi cùng Lý Tĩnh xuất chinh, ông ta đã vi phạm quân lệnh và bị Lý Tĩnh xử phạt. Cao Tắng Sinh liền giở trò “tiên hạ thủ vi cường”, ông ta đến tố cáo với Đường Thái Tông rằng Lý Tĩnh mưu phản. Sau khi điều tra, Đường Thái Tông phát hiện đây là lời vu cáo.
Theo pháp luật thời ấy, vu khống người khác thì phải bị “phản tọa”, tức là phải chịu tội theo chính điều đã bịa đặt. Xét thấy Cao Tắng Sinh từng lập công lớn, Đường Thái Tông quyết định giảm tội từ tử hình xuống thành lưu đày.
Khi ấy, nhiều người đến can gián với Đường Thái Tông, nói rằng: Cao Tắng Sinh đã từng theo bệ hạ khởi binh ở Tấn Dương, từng cùng vào sinh ra tử mà gây dựng giang sơn, chẳng lẽ bệ hạ không xét công mà tha cho ông ta sao? Nhưng Đường Thái Tông kiên quyết nói: ra trận mà không nghe lệnh chỉ huy là tội rất nặng, vậy mà còn dám vu cáo Lý Tĩnh mưu nghịch. Nếu tội như thế mà cũng dung tha, vậy thì pháp lệnh của quốc gia sẽ để ở đâu? Hơn nữa, những người từng theo trẫm khởi binh ở Tấn Dương rất nhiều, nếu trẫm không thi hành pháp luật, e rằng sau này bọn họ sẽ noi theo mà làm càn.
Vì vậy, việc trừng phạt Cao Tắng Sinh cũng là để răn đe các tướng lĩnh khác, để họ tự biết giữ mình, không dám vượt phép. Dưới thời Đường Thái Tông, thưởng phạt phân minh, nghiêm mà không khắc, khoan mà không loạn, luôn giữ được sự cân bằng.
Sau vụ việc này, Lý Tĩnh cũng trở nên dè dặt hơn hẳn, gần như đóng cửa không tiếp khách, kể cả họ hàng cũng không dễ dàng gặp mặt.
Đường Thái Tông đối với các quan đại thần thì luôn tin cậy khi cần tin cậy, luôn nghiêm khắc khi cần nghiêm khắc. Trên hết, ông luôn dùng tấm lòng chân thành để đối đãi với họ.
Khi Đỗ Như Hối lâm bệnh nặng, Đường Thái Tông đích thân đến nhà để an ủi, ông nghẹn ngào khóc. Khi Đỗ Như Hối qua đời, Hoàng đế khóc mà đau đớn, thương tâm tột độ. Về sau, mỗi khi được vật quý, Đường Thái Tông lại nhớ đến Đỗ Như Hối, rồi sai người mang một số vật phẩm đến cho gia đình của Đỗ Như Hối. Dù thời gian đã trôi qua khá lâu, nhưng mỗi khi nhắc đến Đỗ Như Hối, hoàng đế vẫn rưng rưng nước mắt.
Khi nghe tin Phòng Huyền Linh lâm bệnh nguy kịch, Đường Thái Tông ra lệnh nhanh chóng đục tường trong vườn ngự uyển để có thể đi thẳng tới thăm, ông nắm tay Phòng Huyền Linh mà nói lời từ biệt cuối cùng.
Những chi tiết ấy cho thấy Đường Thái Tông vừa là minh quân trí lược, vừa là bậc quân chủ biết trọng nghĩa tình, đủ cả nhân và trí, đủ cả nghiêm và ái.
