Tập 32: Hậu Đường Trang Tông đánh bại Khiết Đan, diệt Hậu Lương, uy danh hiển hách

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 16/08/2026

Năm 917, đại quân Khiết Đan vây chặt thành U Châu, tự xưng có đến trăm vạn đại quân. Lư Văn Tiến đã dạy cho người Khiết Đan đủ mọi chiến thuật công thành như đào địa đạo, đắp núi đất, và cả các phương pháp công phá thành trì kiên cố. Trong thành U Châu, Chu Đức Uy liều chết cố thủ, quyết không để thành thất thủ.

Lý Tồn Úc không muốn làm suy yếu binh lực nơi tiền tuyến, vốn đang phải đối đầu với nước Hậu Lương, nhưng U Châu lại là nơi có vị thế chiến lược vô cùng trọng yếu. Bởi vậy, ông buộc phải sai Lý Tự Nguyên cùng các tướng lĩnh xuất quân Bắc tiến, gấp rút cứu viện U Châu.

Thành U Châu bị Khiết Đan vây khốn gần hai trăm ngày, thế cục đã trở nên vô cùng nguy cấp. Lý Tự Nguyên cùng mấy vị tướng lĩnh phân tích rằng: “quân địch có rất nhiều kỵ binh, còn ta chủ yếu là bộ binh. Nếu giao chiến trên bình nguyên, quân địch ắt sẽ cướp đoạt lương thảo, giày xéo đội ngũ, khiến quân ta chưa đánh đã tan”.

Vì vậy, Lý Tự Nguyên đề xuất rằng: “vùng phụ cận Bắc Kinh có nhiều núi non, nên men theo đường núi mà lặng lẽ hành quân gấp đến dưới chân thành U Châu; nếu gặp kỵ binh quân địch thì có thể dựa vào địa thế hiểm trở mà cố thủ, giữ vững trận tuyến”.

Khi ấy, Lý Tự Nguyên cùng con nuôi là Lý Tòng Kha dẫn 3000 kỵ binh làm tiên phong. Đi đến nơi cách U Châu 60 dặm thì chạm trán quân Khiết Đan.

Lúc đó, quân Khiết Đan chiếm giữ trên núi, còn quân Tấn ở dưới thung lũng, địa thế hết sức bất lợi. Nhưng quân Tấn dũng mãnh phi thường, mỗi khi đến cửa ra của một sơn cốc, quân Khiết Đan đều tìm cách chặn đánh, cha con Lý Tự Nguyên liều chết xung phong, liên tục phá vây vượt ải.

Ra khỏi sơn khẩu, lại có hơn vạn kỵ binh Khiết Đan chặn đường. Lý Tự Nguyên chỉ dẫn hơn trăm kỵ binh liều mình xung kích, ba lần đột phá trận địch, chém được một thủ lĩnh Khiết Đan. Quân Tấn dũng mãnh vô song, đánh cho quân Khiết Đan bại lui, sau đó quân Tấn mới có thể ra khỏi sơn cốc, dựng trại ổn định.

Không lâu sau, quân Khiết Đan lại dùng kỵ binh bao vây doanh trại quân Tấn. Bên phía quân Tấn lập tức triển khai bắn nỏ, sử sách chép rằng khi ấy tên bắn như mưa, che lấp cả ánh mặt trời, người ngựa của Khiết Đan nằm la liệt.

Khi tiến đến U Châu, quân Khiết Đan đã bày sẵn trận thế chờ đánh. Tướng quân Lý Tồn Thẩm liền cho quân đốt củi cỏ, vừa kéo vừa tiến, khiến cho khói bụi mù trời, quân Khiết Đan không rõ đại quân Hậu Tấn rốt cuộc đông đến mức nào. Trong lúc hỗn chiến, quân Tấn tranh nhau xông lên, dũng mãnh vô cùng, đánh cho quân Khiết Đan đại bại, họ phải vứt bỏ chiến xa, giáp trụ, ngựa dê la liệt khắp đồng. Quân Tấn bắt và chém hơn vạn người. Lý Tự Nguyên nhân đó tiến vào U Châu, Chu Đức Uy gặp ông, nắm tay mà rơi lệ.

Trận chiến bảo vệ U Châu diễn ra vào năm 917, kết thúc bằng đại thắng của Lý Tồn Úc. Như vậy, ông cũng xem như đã báo được mối thù thứ hai mà người cha Lý Khắc Dụng đã giao phó.

Sau khi giải được vòng vây Khiết Đan, Lý Tồn Úc mới có thể dốc sức đối phó với nước Hậu Lương ở phương Nam. Tháng 12 năm 917, nhân lúc sông Hoàng Hà đóng băng, ông dẫn quân đạp băng vượt sông, mở đầu cuộc tranh đoạt Bộc Châu và Vận Châu (thuộc tây bắc Sơn Đông). Hai bên giao chiến từ mùa đông năm 917 đến tận năm 923, giằng co suốt sáu năm, chiến sự vô cùng khốc liệt. Đại tướng nước Tấn là Chu Đức Uy cũng tử trận trong trận Hồ Liễu Pha.

Năm 923, vào tháng 4, dưới sự khuyên tiến của quần thần, Lý Tồn Úc đã lên ngôi hoàng đế tại Ngụy Châu (nay thuộc Đại Danh – Hà Bắc), lập quốc hiệu là Đại Đường, sử gọi là Hậu Đường, hiệu của ông là Hậu Đường Trang Tông.

Nhưng ngay khi đăng cơ, cục diện đối với nhà Hậu Đường lại có ba điều bất lợi. Trước hết là biến loạn trong nội bộ: ở Lộ Châu, viên hậu bổ tiết độ sứ Lý Kế Thao đã tạo phản, đầu hàng Hậu Lương, lại thêm ở Trạch Châu (nay thuộc Tấn Thành – Sơn Tây) cũng bị Hậu Lương chiếm mất. Khi đó, phương Bắc vẫn chưa yên, quân Khiết Đan dưới sự dẫn dắt của Lư Văn Tiến vẫn liên tiếp xâm nhập, quấy nhiễu biên ải. Mà lương thảo của Hậu Đường lại thiếu hụt, hậu cần không đủ, khiến thế cục càng thêm khó khăn.

Trong hoàn cảnh có quá nhiều bất lợi như vậy, Hậu Đường Trang Tông – Lý Tồn Úc đã nghe theo kiến nghị của Quách Sùng Thao, đưa ra một quyết định cực kỳ táo bạo và mạo hiểm. Trang Tông nhận định rằng quân Hậu Lương đang đóng dày đặc ở bờ nam Hoàng Hà, vì thế nên tránh chỗ mạnh, đánh vào chỗ yếu, tức là vòng qua khu vực tây bắc Sơn Đông – nơi phòng bị lỏng lẻo – rồi thẳng tiến đánh úp vào kinh đô Đại Lương.

Quyết sách này đã vô cùng hiệu quả. Ngày mùng 2 tháng 10, Hậu Đường Trang Tông xuất quân vượt Hoàng Hà, đến ngày mùng 4 thì đại phá quân Hậu Lương, bắt sống mãnh tướng số một của Hậu Lương là Thiết Thương – Vương Ngạn Chương. Ngày mùng 8, Hậu Lương Mạt Đế – Chu Hữu Trinh trong cơn tuyệt vọng đã sai thuộc hạ giết mình. Ngày mùng 9, quân tiên phong Hậu Đường do cha con Lý Tự Nguyên chỉ huy gần như không gặp kháng cự nào, đã công phá Đại Lương. Ngay trong ngày ấy, Lý Tồn Úc tiến vào thành, ban đại xá cho quan lại Hậu Lương.

Lý Tồn Úc tìm được thủ cấp của Chu Hữu Trinh, đem dâng tế tại tông miếu. Đến đây, ba mối đại thù tiên phụ Lý Khắc Dụng giao phó, về cơ bản đều đã được hoàn thành. Chỉ có điều, Khiết Đan tuy bị đánh bại nhưng chưa bị tiêu diệt.

Trước khi báo thù, Lý Tồn Úc rất chăm chỉ việc chính sự, dụng binh tài tình, anh dũng kiệt xuất, nhưng ông cũng mang những khiếm khuyết lớn trong tính cách. Một trong số đó là ỷ vào dũng lực mà khinh suất tiến quân, đặc biệt là ưa thích mạo hiểm. Trong chiến trận, việc hành quân mạo hiểm có khi sẽ đem lại đại thắng, nhưng cũng có thể sẽ khiến bản thân gánh chịu tổn thất nặng nề.

Nếu xét kỹ, cái thói ỷ dũng mà khinh xuất tiến công của ông, thì còn hàm chứa cả nguyên nhân là thích khoe khoang. Lý Tồn Úc vì muốn phô bày sự dũng cảm, quyết đoán của mình, mà đã đưa ra những quyết sách ấy, rồi một khi thành công thì lại không ngừng đàm luận say sưa, tự tán dương bản thân.

Trong Cựu Ngũ Đại sử – Thế tập liệt truyện có chép một việc: sau khi Lý Tồn Úc tiêu diệt Hậu Lương, Kinh Nam tiết độ sứ Cao Quý Hưng đích thân đến Lạc Dương để triều kiến. Khi trở về Kinh Nam, ông nói với các tướng dưới trướng rằng: “Lý Tồn Úc trải qua trăm trận chiến mới bình định được Hà Nam, thế mà lại giơ ngón tay lên, khoe với công thần rằng: Ta lấy được thiên hạ chỉ bằng đầu ngón tay. Như vậy, công lao diệt nước Lương đều quy về một mình hoàng đế, còn công thần tướng tá thì có gì đáng kể nữa? Các công thần vì thế ai cũng lạnh lòng. Ta thì chẳng còn gì phải lo nữa”.

Cao Quý Hưng nói quả không sai. Hậu Đường Trang Tông – Lý Tồn Úc đã cho rằng việc dựng nên cơ nghiệp hoàn toàn là chiến công của riêng mình, thì đối với công thần tự nhiên sẽ không còn coi trọng, ban thưởng cũng sẽ ít ỏi.

Vậy nếu Lý Tồn Úc không coi trọng công thần, thì ông coi trọng điều gì? Đây chính là vấn đề lớn nhất của ông: mê đắm giới hí tử, lúc bấy giờ gọi là “linh nhân”. Linh nhân là những người làm nghề ca múa, hát xướng, diễn kịch trong cung đình hoặc dân gian. Mà thực ra, nhạc hý kịch là một loại hình nghệ thuật rất hay của Trung Hoa, cho đến ngày nay vẫn còn rất nhiều người say mê.

Hậu Đường Trang Tông – Lý Tồn Úc là người rất có tài, không những giỏi dùng binh đánh trận, ông còn là một người tinh thông âm luật, giỏi diễn tấu nhạc cụ, lại còn tự mình sáng tác khúc nhạc. Thậm chí mãi cho  đến sau khi triều Hậu Đường do ông lập ra đã diệt vong, trong dân gian vùng Sơn Tây và Hà Nam, vẫn còn lưu truyền rất nhiều khúc hát do chính Hậu Đường Trang Tông sáng tác.

Không những vậy, Hậu Đường Trang Tông còn thích tự mình hóa trang rồi lên sân khấu, cùng đám linh nhân diễn kịch, ca xướng mua vui. Thời ấy, những người làm nghề này đều được gọi là “linh nhân”.

Sau khi tiêu diệt nước Hậu Lương, Trang Tông – Lý Tồn Úc tìm được một kép hát mà trước kia từng bị bắt làm tù binh, tên là Chu Tạp. Chu Tạp vốn bị địch bắt trong một trận chiến. Khi gặp lại Trang Tông, ông ta quỳ trước ngựa mà khóc, nói rằng mình may mắn không chết là nhờ hai người là Trần Tuấn và Trữ Đức Nguyên, họ đã hết lòng giúp đỡ, xin hoàng đế ban thưởng cho họ.

Khi ấy, Trang Tông liền nói: “Được, ta sẽ phong cho ba người các ngươi làm thứ sử.” Thứ sử là một chức quan rất lớn.

Sau khi chiếu lệnh ban ra, đại tướng Quách Sùng Thao lập tức phản đối. Quách Sùng Thao chính là người đã từng hiến kế cho Trang Tông rằng nên vòng qua Hoàng Hà để đánh úp Đại Lương, cuối cùng đã đem về thắng lợi lớn. Quách Sùng Thao nói rằng: “Thiên hạ này là nhờ các tướng sĩ liều chết, huyết chiến mà giành được. Các tướng lĩnh ấy còn chưa được ban thưởng, nay lại phong cho ba tên linh nhân không có công lao gì làm chức Thứ sử. Mệnh lệnh này thần không thể tuân theo.”

Nói rồi, Quách Sùng Thao đã bác bỏ chiếu lệnh ấy. Nhưng từ đó, ba tên linh nhân kia cũng thường xuyên đến trước mặt Trang Tông mà khóc lóc cầu xin.

Hậu Đường Trang Tông – Lý Tồn Úc nói với Quách Sùng Thao: “Ta thấy lời ngươi cũng có lý, quả thực không nên phong cho họ. Nhưng ta đã lỡ hứa rồi, nay mỗi lần gặp ba tên linh nhân này, trong lòng ta đều thấy áy náy, thôi thì cứ phong vậy”. Thế là ông vẫn phong cho ba tên linh nhân ấy làm thứ sử.

Các công thần tất nhiên là rất không phục. Vốn dĩ thiên hạ phải là cùng công thần chia hưởng. Họ đã theo hoàng đế chinh chiến, đổ máu lập công, cũng là để sau này cùng hưởng phú quý vinh hoa. Thế nhưng nay, quyền lực lại dồn cả vào tay hoạn quan và linh nhân, phàm là việc quốc gia đại sự, Hậu Đường Trang Tông đều đóng cửa bàn bạc riêng với đám người ấy.

Vậy thì phải làm sao? Có đại thần thì phẫn nộ, có kẻ lại quay sang nịnh bợ đám linh nhân, mong nhờ họ mà cũng được hưởng vinh hoa phú quý. Trong Tả truyện từng nói: “Quân dĩ thử thủy, tất dĩ thử chung” – bậc quân vương đã khởi đầu như thế nào, ắt sẽ kết thúc như thế ấy.

Hậu Đường Trang Tông – Lý Tồn Úc đã quá mức sủng tín linh nhân, cuối cùng cũng chết dưới tay linh nhân. Vậy đại họa này rốt cuộc đã phát sinh ra sao, chúng tôi sẽ kể tiếp trong tập sau.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Lưỡng Tống phồn hoa

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>