Năm 846, Đường Vũ Tông đột ngột qua đời. Người kế vị là Lý Thầm, con của Đường Hiến Tông, hiệu là Đường Tuyên Tông. Ông hoàn toàn đảo ngược chính sách diệt phật dưới thời Đường Vũ Tông, hạ chiếu khôi phục chùa chiền và cho phép tăng ni trở lại tu hành.
Cùng lúc đó, tại nước Thổ Phồn, quốc vương Lãng Đạt Ma cũng đã qua đời. Hai thế lực quân phiệt lớn là đại tướng Thượng Khủng Nhiệt và Tiết độ sứ Thượng Tỳ Tỳ đã chiến tranh nhiều năm tại vùng Hà Tây, khiến đôi bên đều tổn thất nặng nề. Đây trở thành một thời cơ để Đại Đường giải quyết mối họa nơi biên cương Tây Bắc.
Đối với Đại Đường mà nói, sự suy sụp của Thổ Phồn quả thực là một tình huống có lợi. Năm 849, trong phạm vi các vùng nay thuộc Thiên Thủy, Khánh Dương của Cam Túc, cùng với Cố Nguyên của Ninh Hạ, thì có bảy cửa ải đã đồng loạt quy hàng Đại Đường.
Đến năm 851, có một người Sa Châu (nay là Đôn Hoàng, Cam Túc) tên là Trương Nghĩa Triều đã dẫn dắt dân chúng nổi dậy, đánh đuổi tướng Thổ Phồn, rồi quy thuận nhà Đường. Cuối năm ấy, Trương Nghĩa Triều lại thống lĩnh binh mã xuất chiến, thu phục được hơn 10 châu quanh vùng Đôn Hoàng từ tay Thổ Phồn, bao gồm phần lớn Cam Túc, phía bắc Thanh Hải và miền đông Tân Cương. Vùng đất này trong thời Đường được gọi là “Hà Hoàng chi địa”.
Khu vực Hà Hoàng này vốn đã rơi vào tay Thổ Phồn trong suốt trăm năm, vậy mà chỉ trong một sớm một chiều, lại có thể trở về với Đại Đường. Lúc này, Thổ Phồn đã suy yếu đến cùng cực, từ đó về sau cũng không còn phát sinh quan hệ trọng đại nào với Đại Đường nữa.
Có thể nói, Đường Tuyên Tông là một vị hoàng đế rất có phúc. Lúc bấy giờ, không chỉ Thổ Phồn đã suy yếu đến mức không còn đủ sức uy hiếp Đại Đường, mà ngay cả các phiên trấn cát cứ cũng suy giảm khí thế. Khi mới đăng cơ, Đường Tuyên Tông chăm lo trị quốc, lấy việc cần chính làm đầu. Ông cho chép Trinh Quán Chính Yếu lên bình phong, rồi ngày ngày cung kính đọc tụng, lại rất biết lắng nghe ý kiến trái chiều của quần thần, liên tục chú trọng chỉnh đốn quan lại.
Trong 13 năm tại vị, Đường Tuyên Tông đã khiến cục diện chính trị của Đại Đường khởi sắc và ổn định hơn nhiều. Niên hiệu của ông là Đại Trung, nên về sau có sử gia gọi giai đoạn này là “Đại Trung chi trị”. Đây cũng có thể xem là một phần phúc báo do việc ông đã chấm dứt cuộc diệt Phật của Đường Vũ Tông khi trước.
Còn với Phật giáo tại Thổ Phồn, thì phải đến đầu thời Bắc Tống, tức là hơn 100 năm sau, thì mới có thể dần khôi phục trở lại, trong sử gọi là “Hậu hoằng kỳ”.
Năm 859, Đường Tuyên Tông băng hà. Thái tử kế vị là Đường Ý Tông, khi ấy khoảng 25 tuổi. Từ đây, quốc chính ngày càng suy bại. Dẫu rằng lúc này Hồi Hột và Thổ Phồn đã không còn là mối họa lớn, nhưng tai họa từ nước Nam Chiếu lại dâng lên đến đỉnh điểm.
Trước đó, trong thời của Đường Huyền Tông, triều đình từng 3 lần phái quân xuất binh chinh phạt Nam Chiếu, thế nhưng đều thất bại, tổn thất tới 20 vạn binh sĩ. Vậy nên khi loạn An Sử bùng phát thì triều đình đã không còn binh lực để điều động. Khi ấy, Nam Chiếu vì đối kháng với Đại Đường nên đã phải quay sang nương tựa Thổ Phồn.
Vào năm Đại Lịch thứ 14 (tức năm 779) dưới thời Đường Đại Tông, Nam Chiếu đã liên kết với Thổ Phồn để tấn công Duy Châu và Mậu Châu, hai vùng này nằm ở phía tây và phía bắc đất Vấn Xuyên thuộc Tứ Xuyên. Khi ấy, danh tướng nhà Đường là Lý Thịnh đã đánh bại đợt tiến công này.
Phải nói rằng, các triều đại Trung Hoa đối với chư hầu thuộc quốc thì phần nhiều đều rất khoan hậu. Khi các nước chư hầu dâng cống phẩm, triều đình cũng ban thưởng rất hậu hĩnh, thậm chí còn vượt xa lễ vật tiến cống. Chỉ cần họ thừa nhận chủ quyền, khi lập quốc vương thì xin triều đình phê chuẩn là được.
Nhưng còn Thổ Phồn thì khác, họ đối đãi với các nước phụ thuộc thì gần như là theo cách thức “thuộc địa”. Tức là cưỡng bức trưng binh, ép thu thuế nặng, vơ vét của cải. Thổ Phồn lại còn khống chế nhiều cửa ải trọng yếu của Nam Chiếu, khiến nước này khổ sở không chịu nổi. Quân chủ nước Nam Chiếu là Dị Mưu Tầm đã rất bất bình trong lòng. Sau khi nghe lời khuyên của người Hán là Trịnh Hồi, Dị Mưu Tầm đã quyết định một lần nữa quy phục Đại Đường. Khi ấy là năm Trinh Nguyên thứ 10 dưới thời Đường Đức Tông (tức năm 794).
Lúc này, Thổ Phồn đang giao chiến với Hồi Hột, nên đã ép nước Nam Chiếu phải xuất binh trợ chiến. Dị Mưu Tầm giả vờ thuận theo, ông phái ra 5000 quân. Còn bản thân Dị Mưu Tầm lại dẫn mấy vạn binh mã âm thầm theo sau, ngày đêm hành quân đến Thần Xuyên (nay thuộc Lệ Giang, Vân Nam), rồi bất ngờ tiến đánh và đại phá quân Thổ Phồn, chặt đứt xích sắt bắc qua sông Kim Sa, liên tiếp đoạt lại 16 thành trì, bắt sống năm thân vương Thổ Phồn cùng hơn 10 vạn binh sĩ. Từ đó, quan hệ giữa Nam Chiếu và Thổ Phồn đã hoàn toàn sụp đổ.
Đường Đức Tông biết tin, ông lập tức phái sứ thần đến để biểu dương công lao, lại ban cho ấn vàng. Kể từ đó, nước Nam Chiếu liên tục tiến cống Đại Đường. Còn Tiết độ sứ Kiếm Nam Tây Xuyên là Vi Cao, nhờ có sự trợ giúp của Nam Chiếu, nên ở phương Nam cũng nhiều lần đánh bại quân Thổ Phồn.
Vào năm 829, đến thời Đường Văn Tông, nhà Đường và Nam Chiếu từng xảy ra một lần xung đột ngắn ngủi, mà nguyên nhân chủ yếu lại xuất phát từ phía Đại Đường. Sau đó, đôi bên lại sống yên ổn với nhau hơn 30 năm.
Đến năm Đại Trung thứ 13 dưới thời Đường Tuyên Tông (tức năm 859), quân vương nước Nam Chiếu là Phong Hựu qua đời, con là Thế Long lên kế vị. Khi này nhà Đường và nước Nam Chiếu lại nảy sinh xung đột. Triều đình nhà Đường không chịu thừa nhận vương vị của Thế Long, bởi vì tên của ông quá gần với tên húy của Đường Thái Tông Lý Thế Dân và Đường Huyền Tông Lý Long Cơ. Từ đó, Thế Long đã xưng đế, lập quốc hiệu là Đại Lễ, chữ “lễ” mang nghĩa là lễ nghi. Người thời Đường vì kỵ húy, nên đã đổi tên gọi Thế Long thành Tù Long.
Sau khi xưng đế, Tù Long đã phát binh tấn công Bá Châu (nay là Tuân Nghĩa, Quý Châu). Lúc này Đường Tuyên Tông đã băng hà, người kế vị là Đường Ý Tông, triều đình nhà Đường xuất quân phản kích, chiếm lại được Bá Châu.
Từ đó, nước Nam Chiếu chuyển hướng bành trướng lãnh thổ xuống phía Nam, liên kết với thổ dân An Nam, đánh chiếm Giao Chỉ (nay là Hà Nội, Việt Nam). Tù Long tại vị tổng cộng 19 năm, ông ta là một vị quân chủ hiếu chiến, ưa chuộng binh đao. Lúc lãnh thổ mở rộng đến cực thịnh, nước Nam Chiếu đã chiếm trọn vùng Vân Nam, lại chiếm cả một phần đất Tứ Xuyên, Quý Châu, Quảng Tây và miền Bắc Việt Nam.
Sau khi Tù Long chiếm được Giao Chỉ, Đại Đường lập tức huy động đại quân tiến hành phản kích. Hai bên liên tục giao chiến khốc liệt, nhà Đường đã hai lần mất, rồi lại hai lần chiếm lại được Giao Chỉ.
Do chiến sự ở phương Nam không thuận lợi, Tù Long chuyển hướng mở rộng lãnh thổ lên phía Bắc, hai lần dẫn quân tiến vào đất Tứ Xuyên. Nhà Đường đã phái Cao Biền làm Tiết độ sứ Tây Xuyên để tiến hành chống cự. Cao Biền dụng binh rất giỏi, nhưng trong khi giao chiến, ông cũng chủ trương nghị hòa với nước Nam Chiếu. Lúc này, nước Nam Chiếu cũng đã mệt mỏi, quốc lực suy kiệt, nên cuối cùng hai bên giảng hòa.
Năm 877, Tù Long lâm bệnh qua đời. Từ đó nước Nam Chiếu rơi vào cục diện rối loạn. Còn Đại Đường lúc này cũng đã bước vào thời kỳ cuối, tặc khấu nổi lên khắp nơi, thế nước dần tiến đến suy vong.
