Sau Loạn An Sử, các thế lực như Hồi Hột, Thổ Phồn và Nam Chiếu lần lượt nổi lên mạnh mẽ, uy hiếp biên cương Đại Đường, lại thêm trong nước là các phiên trấn cát cứ, khiến cục diện chính trị của nhà Đường trở nên hết sức chao đảo.
Trong triều đình, từ thời Đường Hiến Tông kéo dài đến thời Đường Tuyên Tông, trải qua hơn 30 năm, quần thần kết bè kết cánh, hình thành phe đảng công kích lẫn nhau, sử gọi là “Ngưu Lý đảng tranh”.
“Ngưu Lý đảng tranh” là chỉ cuộc đấu đá giữa hai phe cánh: một bên là phe của Ngưu Tăng Nhụ, phần lớn là quan xuất thân từ khoa cử, gọi là Ngưu đảng; bên kia là phe của Lý Đức Dụ, đứng đầu là những quan lại xuất thân sĩ tộc, gọi là Lý đảng.
Từ khi Tùy Văn Đế mở khoa cử, thể chế tuyển quan của Trung Hoa đã thay đổi. Nhưng khi ấy vẫn còn một số sĩ tộc vùng Quan Đông không đi theo con đường khoa cử mà vẫn có thể làm quan. Lý Đức Dụ chính là người như vậy, bản thân ông ta không ưa khoa cử. Những quan lại xuất thân sĩ tộc, vì huyết thống gia tộc mà đặc biệt coi trọng xuất thân của mình. Trong học thuật, họ rất chú trọng kinh điển Nho gia.
Còn những quan lại xuất thân khoa cử thì phần nhiều là từ sau thời Đường Cao Tông và Võ Tắc Thiên, họ dựa vào thơ phú văn chương mà bước vào chốn quan trường. Hai phe này vốn đã nhìn nhau không thuận mắt. Quan lại xuất thân sĩ tộc dựa vào thế lực danh gia đại tộc, còn quan lại xuất thân khoa cử thì kết thành mạng lưới thế lực thông qua quan hệ tọa sư – môn sinh. Từ thời Đường Hiến Tông đến thời Đường Tuyên Tông, hai phe này không ngừng công kích, chèn ép lẫn nhau.
Nhưng xét cho cùng, những quan lại này trong chính trị nhà Đường thì cũng chỉ là vai trò thứ yếu. Bởi nếu xét về thực lực, thì các phiên trấn nắm binh quyền mới là thế lực mạnh nhất, còn xét về mức độ thân cận với hoàng đế, thì hoạn quan lại là những người ở gần thiên tử hơn cả.
Khi ấy, hai phe này đối với vấn đề phiên trấn cát cứ thì có thái độ hoàn toàn khác nhau: phe Lý đảng chủ trương dùng binh lực để trấn áp, còn phe Ngưu đảng thì thiên về kế nghị hòa.
Trong phe Lý đảng, ngoài Lý Đức Dụ làm thủ lĩnh, trước đó còn có Bùi Độ và Lý Thân, họ đều từng là những nhân vật đứng đầu. Bùi Độ là người mà trước đây chúng tôi đã nhắc đến, ông chính là đại công thần trong thời “Nguyên Hòa trung hưng”, có công bình định loạn phiên trấn.
Còn Lý Thân thì là một đại thi nhân nổi tiếng. Ông có một bài thơ mà hầu như ai cũng thuộc, đó là bài Mẫn nông. Thơ rằng:
Sừ hòa nhật đương ngọ
Hãn chích hoà hạ thổ
Thuỳ tri bàn trung xan
Lạp lạp giai tân khổ.
Còn đây là phiên bản dịch thơ của bài Mẫn nông:
Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.
Thơ của Lý Thân quả thực rất hay, ông cùng với Nguyên Chẩn và Bạch Cư Dị đã đề xướng thể thơ “Tân nhạc phủ”. Thế nhưng trên thực tế, phẩm hạnh làm người của Lý Thân lại có nhiều điều không đúng.
Ngưu đảng thực ra không phải đều mang họ Ngưu, trái lại trong đó cũng có không ít người mang họ Lý. Những nhân vật tiêu biểu gồm có Ngưu Tăng Nhụ, Lý Tông Mẫn và Lý Phùng Cát.
Ban đầu, mâu thuẫn nảy sinh từ thời Đường Hiến Tông. Khi ấy Lý Cát Phủ giữ chức tể tướng. Trong một kỳ thi khoa cử, Ngưu Tăng Nhụ và Lý Tông Mẫn đã có lời phê bình chính sự. Lý Cát Phủ cho rằng những lời ấy là nhằm châm biếm mình, vì vậy trong lòng đã bắt đầu sinh oán hận.
Về sau, đến thời Đường Mục Tông, con của Lý Cát Phủ là Lý Đức Dụ đang giữ chức Hàn Lâm học sĩ, thế là ông ta liền tìm cớ để biếm chức, cho Lý Tông Mẫn ra làm quan địa phương, từ đó mối hiềm khích giữa hai phe lại càng thêm sâu nặng.
Đến thời Đường Mục Tông, hoạn quan Thổ Đột Thừa Thôi của phe chủ chiến – bị hoạn quan phe đối lập là Vương Thủ Trừng giết chết. Từ đó, đường lối chủ hòa của phe Ngưu đảng được triều đình tiếp nhận, Ngưu Tăng Nhụ vào triều làm tể tướng, còn Lý Đức Dụ thì bị điều ra ngoài, giữ chức Tiết độ sứ Tây Xuyên.
Cuộc tranh chấp giữa phe chủ chiến và phe chủ hòa này đã dẫn đến một thất bại ngoại giao nghiêm trọng dưới thời Đường Văn Tông. Tuy vậy, Lý Đức Dụ là người có năng lực rất mạnh. Sau khi đến Tứ Xuyên, ông đã tích cực huấn luyện binh sĩ, chuẩn bị cho chiến tranh, lại tiến hành chỉnh lý hộ tịch, tích trữ lương thảo, lo việc phòng bị hết sức chu toàn.
Vào năm Thái Hòa thứ 5 dưới thời Đường Văn Tông (tức năm 831), nước Thổ Phồn xảy ra nội loạn. Đại tướng Tất Đát Mưu đã đem đất Duy Châu dâng cho Đại Đường để xin đầu hàng. Duy Châu chính là khu vực Lý huyện thuộc Tứ Xuyên ngày nay, nơi đây có địa thế cao và hiểm trở, là con đường then chốt từ Tứ Xuyên tiến vào Tây Tạng, từ trên cao có thể khống chế, nhìn xuống Thành Đô. Đương thời người ta gọi nơi này là “Vô Ưu thành”.
Tòa thành này đối với Đại Đường mà nói, thì đúng là một món lợi bất ngờ từ trên trời rơi xuống, lại có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc bảo vệ an nguy của Thành Đô. Thế là Lý Đức Dụ với lập trường chủ chiến, dĩ nhiên đã vui vẻ tiếp nhận lễ vật này.
Nhưng trong triều đình, phe chủ hòa là Ngưu đảng lại không nhìn nhận vấn đề như vậy. Bởi vì vào năm Trường Khánh nguyên niên dưới thời Đường Mục Tông (tức năm 821), Đại Đường và Thổ Phồn đã ký kết minh ước, cùng cam kết duy trì hòa bình giữa hai quốc gia.
Một năm sau đó, nhà Đường cử sứ thần Lưu Nguyên Đỉnh sang Thổ Phồn để phân định biên giới. Sau đó, Tán Phổ của Thổ Phồn đã tổ chức một nghi lễ đón tiếp vô cùng long trọng tại Lhasa, đồng thời cho khắc minh ước lên bia đá. Tấm bia này gọi là “Đường – Phiên hội minh bia”, hiện nay vẫn còn được lưu giữ tại Đại Chiêu tự ở Lhasa. Từ đó, hai bên hòa hiếu thân thiện, sứ giả qua lại không dứt, quan hệ bang giao một thời trở nên hết sức mật thiết. Vì vậy, phái Ngưu đảng cho rằng, chỉ vì chiếm được một tòa thành như vậy mà làm tổn hại quan hệ giữa Đại Đường và Thổ Phồn thì quả thực không đáng.
Khi này, Đường Văn Tông do dự không quyết, cuối cùng vẫn nghe theo đề nghị của phe Ngưu đảng, hoàng đế hạ chiếu cho Lý Đức Dụ phải trả lại Duy Châu cùng với hàng tướng Tất Đát Mưu cho Thổ Phồn. Và kết quả là Tất Đát Mưu đã bị hành hình hết sức tàn khốc.
Về sau, Đường Văn Tông nghe được tin này thì bắt đầu hối hận, thế là ông đã bãi chức tể tướng của Ngưu Tăng Nhụ, giáng chức xuống làm Hoài Nam tiết độ sứ, rồi lại triệu Lý Đức Dụ về triều đình để giữ chức tể tướng.
Thế nhưng chỉ 1 năm sau, Đường Văn Tông lại trọng dụng người của Ngưu đảng là Lý Tông Mẫn làm tể tướng, còn Lý Đức Dụ thì lại bị điều ra ngoài, làm chức Trấn Hải tiết độ sứ (trị sở tại Trấn Giang, Giang Tô).
Đường Văn Tông lúc ấy cứ xoay qua xoay lại giữa hai phe Ngưu đảng và Lý đảng. Bởi vì họ nói đều hay, ai nấy nói đều thấy có lý, khiến hoàng đế liên tục gặp tình huống tiến thoái lưỡng nan, không biết nghe theo ai. Đường Văn Tông từng than rằng: “đối phó với các phiên trấn ở Hà Bắc còn dễ, chứ xử lý sự tranh đấu phe đảng trong triều đình thì thực sự quá khó”.
Sau khi Đường Văn Tông băng hà, Đường Vũ Tông lên ngôi. Đường Vũ Tông là người có tài năng, lại có chí muốn chấn chỉnh triều chính, vì vậy ông đã trọng dụng Lý Đức Dụ – người theo phe chủ chiến.
Dưới thời Đường Vũ Tông, quả thực nhà Đường đã có những thắng lợi quân sự. Bên ngoài thì chống lại các cuộc tiến đánh của Hồi Hột, trong nước thì đánh dẹp phiên trấn Trạch Lộ (nay thuộc khu vực Trường Trị – Sơn Tây, vùng giáp ranh ba tỉnh Sơn Tây, Hà Bắc, Hà Nam). Trong những chiến công này, Lý Đức Dụ đều giữ vai trò rất quan trọng, nhờ đó mà được phong làm Thái úy.
Nhưng sau khi lập được đại công, Lý Đức Dụ lại nhân cơ hội để vu hãm phe Ngưu đảng là có liên quan với cuộc nổi loạn Trạch Lộ. Theo ghi chép trong Tư Trị Thông Giám thì việc này về cơ bản là vu cáo hãm hại. Bởi vì họ không tìm được bằng chứng là thư từ qua lại giữa Ngưu Tăng Nhụ, Lý Tông Mẫn với quân phản loạn, nên đã nói rằng mỗi lần quân phản loạn nhận được thư thì đều đọc xong rồi đốt đi. Lại còn tiếp nhận lời tố cáo của một người tên là Lữ Thuật, nói rằng khi Ngưu Tăng Nhụ nghe tin quân phản loạn thất bại thì đã thở dài một tiếng.
Chỉ dựa vào những điều như vậy, triều đình liền giáng chức Ngưu Tăng Nhụ và Lý Tông Mẫn xuống làm quan ở Phúc Kiến, rồi sau đó lại tiếp tục giáng xuống Quảng Đông. Không chỉ vậy, Lý Đức Dụ còn từng nhiều lần bịa đặt án oan, mượn việc công để báo thù riêng, khiến người đương thời vô cùng thất vọng.
Nhìn rộng ra, đây cũng là biểu hiện của nhân tâm đã lệch khỏi chính đạo. Dẫu là người có tài năng, nhưng nếu không giữ được đạo nghĩa thì cuối cùng cũng khó tránh khỏi để lại tiếng xấu trong sử sách — đó cũng là lẽ báo ứng mà cổ nhân thường nói.
Đến năm Hội Xương thứ 5, khi xảy ra sự kiện diệt phật, Lý Đức Dụ cũng là người tích cực ủng hộ Đường Vũ Tông.
Khi ấy, rất nhiều tăng nhân ở Ngũ Đài sơn đã phải chạy trốn đến U Châu. Lý Đức Dụ nghe được tin này thì liền sai sứ giả truyền lời cho tiết độ sứ U Châu là Trương Trọng Vũ, rằng: “Tăng nhân Ngũ Đài sơn, nếu làm tướng thì không bằng tướng sĩ U Châu, nếu làm binh thì cũng không bằng binh lính U Châu, những kẻ vô dụng ấy, thu nhận họ làm gì? Ngươi có thấy trước đây tiết độ sứ Trạch Lộ là Lưu Tòng Gián đã tụ tập những kẻ nhàn tản ấy, rồi cuối cùng kết cục ra sao!?”
Trương Trọng Vũ đã nghe theo, ông ta bèn chuẩn bị hai thanh đao, giao cho quân trấn thủ Cư Dung quan, ra lệnh rằng: “nếu có tăng nhân lang thang vào địa giới thì giết ngay”.
Bấy giờ có người tên là Vi Bác, ông cho rằng hành vi của Lý Đức Dụ là rất quá đáng. Lý Đức Dụ vì thế sinh lòng chán ghét, liền điều Vi Bác ra ngoài, làm Linh Võ tiết độ phó sứ.
Chỉ 1 năm sau khi tiến hành diệt phật, Đường Vũ Tông băng hà, Đường Tuyên Tông kế vị. Đường Tuyên Tông đặc biệt chán ghét việc Lý Đức Dụ chuyên quyền.
Ngay trong ngày hoàng đế đăng cơ, Lý Đức Dụ đã dâng lên các tấu thư liên quan. Sau khi nghi lễ kết thúc, Đường Tuyên Tông nói với người bên cạnh: “Vừa rồi người đứng gần ta là Thái úy phải không? Mỗi lần hắn nhìn ta, đều khiến ta nổi cả gai ốc”.
Vì thế, Đường Tuyên Tông giáng chức Lý Đức Dụ ra làm quan địa phương, rồi hết lần này đến lần khác lại bị giáng chức, cuối cùng phải đến Nhai Châu, tức là vùng Tam Á thuộc Hải Nam ngày nay. Lý Đức Dụ cũng qua đời tại đó.
Ngay từ đầu loạt bài này, chúng tôi đã nhắc đến bốn vấn đề lớn của Đại Đường sau Loạn An Sử. Đó là: uy hiếp biên giới từ Hồi Hột, Thổ Phồn và Nam Chiếu; loạn phiên trấn cát cứ trong nội địa; sự tranh đấu phe đảng trong triều; và vấn nạn hoạn quan chuyên quyền trong cung.
Trong lịch sử Trung Hoa, có 3 triều đại chịu họa nghiêm trọng từ vấn đề hoạn quan chuyên quyền, đó là Đông Hán, nhà Đường và nhà Minh. Đông Hán là tình trạng ngoại thích và hoạn quan thay nhau nắm quyền, còn nhà Đường thì kể từ sau Loạn An Sử, hoạn quan gần như đời nào cũng cầm quyền, kéo dài cho đến tận khi triều đại diệt vong.
Vậy trong thời Đường, nạn hoạn quan chuyên quyền cụ thể ra sao? Chúng tôi sẽ kể tiếp trong tập sau.
