Tháng 9 năm 1161, Quốc chủ nước Kim – Hoàn Nhan Lượng đã huy động 60 vạn binh mã trong cả nước, ồ ạt tiến đánh Nam Tống. Chẳng bao lâu, quân Kim đã chiếm được vùng đất phía nam sông Hoài, đại quân áp sát Trường Giang.
Thế nhưng thật bất ngờ rằng: tại Thái Thạch, quân Kim đã bị Ngu Doãn Văn đánh cho đại bại. Cùng lúc ấy, trong nước Kim cũng xảy ra biến cố lớn: Đông Kinh lưu thủ – Hoàn Nhan Ung được quần thần tôn lập lên làm hoàng đế. Còn Hoàn Nhan Lượng vì quá tàn bạo, cuối cùng đã bị thuộc hạ giết chết trong binh biến.
Trong lần xuất binh này của Hoàn Nhan Lượng, ngoài cánh quân do ông ta chỉ huy — thì các cánh quân Kim khác cũng lần lượt bị quân Tống đánh bại. Trên đường thủy, quân Kim thua trận tại Trần Gia Đảo, nay là vùng biển phía nam thành phố Giao Châu, Sơn Đông. Ở mặt chiến tuyến Thiểm Tây, Ngô Lân cũng nhân thế tiến công, thu phục bốn châu gồm: Tần Châu (nay là Thiên Thủy), Lũng Châu (nay là Lũng huyện, Thiểm Tây), Thương Châu (nay là Thương huyện, Thiểm Tây), và cả Quắc Châu (nay là Linh Bảo, Hà Nam).
Sau khi cánh quân chủ lực của Hoàn Nhan Lượng liên tiếp thất bại tại Thái Thạch và Dương Châu, Trương Tuấn đi đến Kiến Khang. Thấy quân Tống đại thắng, ông liền nghênh đón Tống Cao Tông đến Kiến Khang để ban thưởng và khích lệ tướng sĩ. Tống Cao Tông vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, ông chưa từng nghĩ rằng thắng lợi lại có thể đến dễ dàng như vậy, bèn đích thân đến Kiến Khang. Lúc bấy giờ, sĩ khí quân Tống đang dâng cao như sóng lớn. Chẳng bao lâu sau, họ đã thu phục lại những vùng đất ở bờ nam sông Hoài, đó là những vùng từng bị quân Kim chiếm đóng. Thời điểm ấy là tháng Chạp năm Thiệu Hưng thứ 31.
Năm thứ 2 sau đại thắng Thái Thạch, Tống Cao Tông lúc ấy đã làm hoàng đế được 36 năm. Ngày 11 tháng 6 năm Thiệu Hưng thứ 32, tức năm 1162, Tống Cao Tông chủ động thoái vị. Vì không có con trai, Cao Tông bèn truyền ngôi cho Thái tử Triệu Thận, sử gọi là Tống Hiếu Tông. Còn bản thân Cao Tông lui về làm Thái thượng hoàng. Việc này không phải do bất kỳ đại thần nào khuyên can hay thúc ép, mà là do chính Cao Tông tự cảm thấy mình đã mỏi mệt với việc xử lý quốc sự, nên sau khi thoái vị, ông lui về ở ẩn tại Đức Thọ Cung.
Tống Hiếu Tông là một vị hoàng đế tương đối có chí tiến thủ trong số các hoàng đế Nam Tống. Ông không phải con trai của Tống Cao Tông, mà là cháu đời thứ bảy của Tống Thái Tổ.
Chúng ta biết rằng, vị hoàng đế thứ hai của Bắc Tống là Tống Thái Tông, vốn là em trai của Thái Tổ. Năm xưa, trong Kim Quỹ Chi Minh từng có ước định rằng Thái Tông sau này phải truyền ngôi trở lại cho con trai của Thái Tổ là Triệu Đức Chiêu. Thế nhưng trên thực tế, Thái Tông lại truyền ngôi cho con trai mình là Triệu Hằng, tức là Tống Chân Tông. Từ đó về sau, hoàng vị của Bắc Tống đều nằm trong tay con cháu thuộc dòng dõi của Thái Tông. Sau nỗi nhục Tĩnh Khang, tất cả anh em của Cao Tông đều bị bắt đưa lên phương Bắc. Tống Cao Tông tìm đến Triệu Thận, là cháu đời thứ 7 của Thái Tổ, để lập làm người kế vị. Như vậy, bắt đầu từ vị hoàng đế thứ 2 của Nam Tống, ngôi vị hoàng đế đã trở về với dòng dõi của Tống Thái Tổ.
Tống Hiếu Tông từ lâu vẫn ôm chí muốn khôi phục Trung Nguyên. Trong tháng 6, Tống Hiếu Tông đăng cơ, đến tháng 7 thì triệu kiến Trương Tuấn, phong làm Ngụy Quốc Công. Đồng thời, vào ngày 13 tháng 7, tức chỉ mới một tháng sau khi lên ngôi, Tống Hiếu Tông ban chiếu khôi phục toàn bộ quan chức cho Nhạc Phi, ông phái người đi tìm lại di cốt của Nhạc Phi, rồi ban cho một triệu tiền, cải táng bên bờ Tây Hồ, trên núi Thê Hà Lĩnh, đồng thời tìm kiếm hậu nhân của Nhạc Phi để trọng dụng.
Cùng được bình phản còn có Nhạc Vân. Triều đình lấy lễ mà cho ông được bồi táng, truy tặng chức An Viễn quân Thừa tuyên sứ. Ở Ngạc Châu, tức Vũ Xương, triều đình cũng lập miếu thờ Nhạc Phi, truy tặng thụy hiệu là Trung Liệt. Việc làm này của Hiếu Tông thật khiến người đời kinh ngạc, bởi vì Nhạc Phi vốn là đã bị Tống Cao Tông giết hại. Thế mà Tống Hiếu Tông vừa lên ngôi đã công khai rửa oan cho Nhạc Phi, khi mà Tống Cao Tông vẫn đang làm Thái thượng hoàng.
Trong chiếu thư, Tống Hiếu Tông có viết một đoạn như sau: “Nhạc Phi có thể phụng sự quân thượng bằng lòng trung, thống lĩnh ba quân có phép tắc, không tự khoe khoang công lao; công nghiệp oanh liệt và phong phạm trung liệt, đến nay vẫn chưa hề phai mất”. Đến năm Thuần Hy thứ sáu dưới thời Tống Hiếu Tông, tức năm 1179, Nhạc Phi lại được truy tặng thụy hiệu Võ Mục. Đến năm Gia Định thứ tư, tức năm 1211, Tống Ninh Tông truy phong Nhạc Phi làm Ngạc Vương.
Tống Hiếu Tông đã biểu dương và rửa oan cho Nhạc Phi, vậy những kẻ phải chịu trách nhiệm trong vụ án oan của Nhạc Phi sẽ bị xử lý ra sao? Tống Hiếu Tông nói rằng tất cả đều là lỗi của Tần Cối. Ông còn nói, đối với việc Nhạc Phi bị giết hại, Cao Tông hoàng đế cũng vẫn luôn canh cánh trong lòng, mãi không thể nguôi ngoai. Cuối cùng, Hiếu Tông lại nói: “Nay có thể kính cẩn vâng theo thánh ý, truy phục nguyên quan, lấy lễ cải táng; đồng thời tìm kiếm hậu duệ, đặc biệt thu nhận và trọng dụng”.
Một năm sau, tức năm 1163, Tống Hiếu Tông đổi niên hiệu thành Long Hưng, phong Trương Tuấn làm Khu mật sứ. Việc này, cộng với việc bình phản cho Nhạc Phi, trên thực tế đã bộc lộ rõ chí nguyện muốn khôi phục Trung Nguyên của Tống Hiếu Tông.
Thế nhưng lúc bấy giờ trong triều đình vẫn có tiếng nói phản đối. Người ấy là Thượng thư Hữu bộc xạ – Sử Hạo. Sự phản đối của Sử Hạo không giống với phái chủ hòa như Tần Cối. Sử Hạo cho rằng: binh sĩ Nam Tống lúc ấy vẫn chưa được huấn luyện đầy đủ, chưa có sự bố trí hệ thống và chu toàn. Nếu mà hấp tấp khởi binh, “nếu nghe theo mưu kế nông cạn của kẻ sĩ thiển cận, nhất thời dấy lên đạo quân chưa được rèn luyện”, thì điều đáng sợ nhất là chỉ được một lúc hả lòng hả dạ, nhưng hậu họa về sau lại vô cùng vô tận.
Tống Hiếu Tông nghe vậy thì cũng có phần do dự. Nhưng Trương Tuấn vẫn kiên quyết chủ trương xuất binh. Vào tháng 5 năm Long Hưng thứ nhất, tức năm 1163, Tống Hiếu Tông huy động quân đội tiến hành Bắc phạt. Sử gọi là “Long Hưng Bắc phạt”.
Trong cuộc Bắc phạt lần này, Nam Tống ban đầu giành thắng lợi, nhưng sau cùng lại thất bại. Nguyên nhân chủ yếu là vì các tướng soái bất hòa, lòng quân không quy về một mối. Quân Tống thua trận tại Phù Ly, thuộc Túc Châu, An Huy ngày nay; binh khí, lương thảo gần như mất sạch. Tống Hiếu Tông không còn cách nào khác, đành phải giáng chức Trương Tuấn. Đến tháng 8 năm sau, mang theo nỗi ưu tư vì quốc sự và nỗi đau vì chí khôi phục Trung Nguyên chưa thành, Trương Tuấn lâm bệnh qua đời.”
Vì muốn Bắc phạt, Tống Hiếu Tông từng đích thân luyện võ, học bắn cung. Trong một lần tập bắn, dây cung bật đứt, làm mắt của ông bị thương. Lúc ấy có một người tên là Trần Tuấn Khanh khuyên rằng: “Nếu bệ hạ có thể dùng những bậc mưu sĩ trí lược và những tướng quân dũng mãnh, chỉnh đốn nội chính cho tốt, thì uy danh anh minh của bệ hạ đủ khiến quân địch phải khiếp sợ từ ngoài ngàn vạn dặm. Hà tất phải tự mình rong ruổi bắn cung trong khoảng trăm bước nhỏ nhoi như vậy!?” Tống Hiếu Tông cảm thấy lời ấy cũng có đạo lý, bèn chuyển trọng tâm chú ý sang việc nội chính.
Người đời sau nói: “Thời Cao Tông có bề tôi khôi phục, nhưng không có vị quân chủ khôi phục. Thời Hiếu Tông có vị quân chủ khôi phục, nhưng lại không có bề tôi khôi phục”. Tống Cao Tông có những đại tướng tài giỏi như Nhạc Phi, Hàn Thế Trung, Lưu Kỳ, Ngô Giới, Ngô Lân; nhưng bản thân Cao Tông lại nhu nhược, chỉ muốn an phận làm hoàng đế ở một góc trời.
Đến thời Tống Hiếu Tông, người có thể trông cậy chỉ có một Ngu Doãn Văn. Thế nhưng Ngu Doãn Văn lại giỏi phòng thủ hơn là tiến công, cũng chưa từng đánh những trận chinh phạt lớn. Còn Khu mật sứ Trương Tuấn tuy là có tầm nhìn chiến lược, từng khuyên Cao Tông phòng thủ vùng Tứ Xuyên và Thiểm Tây, đồng thời cũng trọng dụng Nhạc Phi, nhưng bản thân Trương Tuấn lại không phải người giỏi cầm quân đánh trận.
Đương nhiên, việc Hiếu Tông mãi không thể đại quy mô tiến hành Bắc phạt, có lẽ cũng liên quan đến Cao Tông. Khi ấy, Tống Cao Tông vẫn còn làm Thái thượng hoàng tổng cộng 25 năm. Vì vậy, trong quốc sách, Tống Hiếu Tông tất nhiên cũng bị Cao Tông kiềm chế và ràng buộc.
Trong thời Tống Hiếu Tông, kinh tế Nam Tống phát triển rất tốt. Một trong những loại tiền giấy sớm nhất của Trung Quốc là “Hội tử”, chính là được phát hành và lưu thông dưới sự cho phép của Tống Hiếu Tông. Tiền giấy khác với các loại tiền bằng kim loại quý như vàng bạc. Trên thực tế, đó là một loại tiền tệ lấy uy tín của triều đình làm bảo chứng. Dưới sự chú ý và điều tiết của Tống Hiếu Tông, giá trị của tiền giấy được duy trì tương đối ổn định. Điều này đã có tác dụng thúc đẩy rất lớn đối với lưu thông hàng hóa và sự phát triển kinh tế.
Tống Hiếu Tông giảm nhẹ lao dịch, thuế khóa; hưng tu các công trình thủy lợi; mở rộng đường ngôn luận. Về chính trị, triều chính tương đối thanh minh; về dân sinh, đời sống bách tính cũng khá yên ổn.
Về văn hóa, Tống Hiếu Tông áp dụng sách lược bao dung, để các học phái Nho gia khác nhau đều có thể cùng tồn tại. Rất nhiều tư tưởng gia nổi tiếng như Chu Hy và Lục Cửu Uyên đều hoạt động trong thời kỳ này. Một người thuộc về Lý học, một người thuộc về Tâm học; hai bên từng có một cuộc biện luận nổi tiếng tại Nga Hồ.
Ngoài ra, những văn nhân lừng danh như Lục Du, Phạm Thành Đại, Dương Vạn Lý, Tân Khí Tật cũng đều hoạt động sôi nổi trong thời đại của Tống Hiếu Tông. Có thể nói, dưới triều Hiếu Tông, Nam Tống tuy chưa thể khôi phục Trung Nguyên, nhưng trong nội trị, kinh tế và văn hóa, lại hiện ra một khí tượng tương đối hưng thịnh, nhân tài rực rỡ như sao trời, văn mạch một thời sáng chói.
Trong khi Tống Hiếu Tông dốc sức phát triển nội chính, quốc gia dần phồn vinh, thì ở phương Bắc, Kim Thế Tông cũng có thành tựu, ông không phải là một vị quân chủ ham thích xâm lược và bành trướng lãnh thổ. Kim Thế Tông phong Bộc Tán Trung Nghĩa làm Đô nguyên soái, đóng quân ở Biện Lương. Kim Thế Tông căn dặn Bộc Tán Trung Nghĩa rằng: “chỉ cần Nam Tống chịu khôi phục đường biên giới như thời Thiệu Hưng hòa nghị, thì hai nước có thể bãi binh, nghị hòa”.
Bộc Tán Trung Nghĩa tuân theo chủ trương của Kim Thế Tông, tiến hành giao thiệp với Nam Tống, yêu cầu Nam Tống trả lại vùng đất phía bắc sông Hoài, đồng thời khôi phục việc nộp tuế tệ, tức là cống nạp hằng năm cho nước Kim. Thế nhưng lúc ấy vừa đúng vào thời điểm trước cuộc Long Hưng Bắc phạt, nên Tống Hiếu Tông hoàn toàn không để ý. Mãi đến sau khi Long Hưng Bắc phạt thất bại, Tống Hiếu Tông mới bắt đầu cùng nước Kim nối lại đàm phán hòa nghị.

