Tập 113: Kim Thế Tông anh minh hiền đức – Tống và Kim giữ mối hòa hảo

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 14/06/2026

Vào thời Nam Tống, tuy rằng Tống Hiếu Tông có chí lớn muốn khôi phục Trung Nguyên, nhưng bên cạnh ông lại không có bậc danh tướng đủ sức gánh vác đại nghiệp. Sau khi cuộc “Bắc phạt Long Hưng” kết thúc trong thảm bại, suốt cả đời Tống Hiếu Tông không tiến hành cuộc tiến công nào nữa.

Còn ở phương Bắc, Kim Thế Tông cũng là một vị quân chủ hiếm thấy, sáng suốt và có tài trị quốc. Cuối cùng, Tống Hiếu Tông đành cùng nước Kim ký kết hòa nghị, sử gọi là “Hòa nghị Long Hưng”.

Trong lịch sử, Kim Thế Tông là một vị hoàng đế được đánh giá rất cao. Thân thế của ông cũng mang nhiều màu sắc truyền kỳ. Theo ghi chép trong “Kim sử”, Kim Thế Tông sinh ra vào năm 1123 tại Thượng Kinh – Hội Ninh phủ. Dung mạo của ông kỳ vĩ khác thường, bộ râu rất đẹp, dài qua cả bụng. Trên ngực ông có 7 nốt ruồi, xếp thành hình Bắc Đẩu thất tinh.

Kim Thế Tông có tính tình nhân ái, hiếu thuận, trầm tĩnh mà sáng suốt. Võ nghệ của ông cũng rất cao cường; riêng về tài cưỡi ngựa bắn cung thì người Kim đều bái phục, tôn ông là bậc nhất. Mỗi lần Kim Thế Tông ra ngoài săn bắn, rất nhiều người già đều đi theo đoàn, chỉ để được tận mắt nhìn thấy phong thái của ông.

Năm 1161, khi mà Hoàn Nhan Lượng huy động đại quân tiến đánh Nam Tống, có một ngày khi Kim Thế Tông đang ngủ, trong phòng bỗng có luồng hồng quang sáng rực. Có người trông thấy một con hoàng long cuộn mình trên nóc căn phòng. Đến đêm lại có ánh sáng như sao rơi xuống ngay trong sân nhà.

Năm ấy, vừa lúc sông Liêu dâng nước lớn. Kim sử chép rằng: “Năm ấy, nước Đông Lương dâng tràn, đột ngột ập đến dưới thành; mực nước cao ngang tường thành, phá qua các khe đá ở vết nứt mà chảy vào trong thành, dòng nước cuộn xiết như suối trào, người trong thành đều kinh hoàng. Hoàng thượng đích thân lên thành, nâng chén rượu làm lễ tế, nước liền rút xuống”.

Trong thời gian Hoàn Nhan Lượng xưng đế, ông ta vô cùng nghi kỵ tông thất, từng giết hại đến mấy trăm người trong hoàng tộc. Đối với một người như Thế Tông – Hoàn Nhan Ung, vừa có võ công, vừa có danh vọng, đương nhiên Hoàn Nhan Lượng lại càng đề phòng.

Kim Thế Tông có một người vợ hiền đức, họ là Ô Lâm Đáp, về sau được truy phong là Chiêu Đức hoàng hậu. Người xưa thường đính hôn từ rất sớm, nên hai người đã ở bên nhau từ khi còn nhỏ. Ô Lâm Đáp thị vừa xinh đẹp, vừa hiền thục; tình cảm phu thê giưa hai người là vô cùng sâu nặng.

Những ghi chép trong “Kim sử” về nữ nhân này cũng khiến người đọc cảm thấy xót xa. Bà là người dịu dàng, biết quan tâm, lại hết mực hiếu thuận với bề trên, hòa hảo với anh em, cung kính cẩn trọng, trị gia có phép tắc. Hơn nữa, Ô Lâm Đáp thị còn rất khoan dung rộng lượng, khiến người ta càng thêm quý mến.

Có một lần, Ô Lâm Đáp thị lâm bệnh. Kim Thế Tông mời thầy thuốc, ông tự mình lo việc sắc thuốc, mấy ngày liền không rời khỏi bên cạnh. Ô Lâm Đáp thị bèn nói: “Đại vương đối đãi với thiếp quá hậu. Người hiểu chuyện thì cho rằng ngài đang chăm sóc người bệnh; kẻ không hiểu ắt sẽ sinh nghi rằng thiếp được sủng ái, sẽ có lòng ghen tuông”.

Ý bà là không muốn để người ngoài nghĩ rằng mình độc chiếm ân sủng, khiến Kim Thế Tông khó xử trong việc điều hòa quan hệ chốn hậu cung. Vì vậy, Ô Lâm Đáp thị còn giới thiệu nhiều mỹ nhân cho Kim Thế Tông, chỉ mong ông có thể sinh thêm con trai, nối dõi tông đường. Còn bản thân bà thì tuyệt nhiên không hề có chút lòng đố kỵ.

Ô Lâm Đáp thị nhiều lần khuyên Thế Tông phải tìm cách để tránh bị Kim Hi Tông và Hoàn Nhan Lượng nghi kỵ. Nhờ vậy, bà đã tạo cho Thế Tông một hoàn cảnh tương đối an toàn giữa chốn triều đình đầy hiểm họa.

Ngay từ khi Kim Hi Tông còn làm hoàng đế, Ô Lâm Đáp thị đã khuyên Thế Tông rằng: “hễ có vật tốt, bảo vật quý, thì nên đem dâng lên cho Hi Tông”. Có một món bảo vật mà Thế Tông không nỡ dâng đi, Ô Lâm Đáp thị nói: “Nếu ngài không dâng món bảo vật này, thì ngay cả tính mạng cũng khó giữ, vậy còn cần bảo vật để làm gì?”

Bởi vậy, về sau Thế Tông cứ có bảo vật tốt là đều đem dâng cho Kim Hi Tông và Hải Lăng vương – Hoàn Nhan Lượng. Chính vì thế, hai người này cho rằng ông là kẻ nhút nhát, không có chí lớn, vậy nên không ra tay giết hại ông, mà chỉ phái người đến để giám sát mà thôi.

Về sau, khi Thế Tông giữ chức Phủ doãn Tế Nam, Hoàn Nhan Lượng cho gọi Ô Lâm Đáp thị đến Trung Đô – Yên Kinh để gặp hắn. Đây là một mệnh lệnh vô cùng kỳ lạ, vì nếu muốn triệu người thân của Thế Tông để làm con tin, lẽ ra nên triệu con trai của ông. Nhưng Hoàn Nhan Lượng lại nhất định phải triệu Ô Lâm Đáp thị, bởi hắn vốn có tính cách hoang dâm. 

Ô Lâm Đáp thị hiểu rất rõ điều ấy. Nhưng nếu bà không đi, Hoàn Nhan Lượng tất sẽ giận cá chém thớt, trút họa lên đầu Thế Tông. Kim sử chép rằng: “Khi Thế Tông ở Tế Nam, Hải Lăng vương triệu hoàng hậu đến Trung Đô. Hoàng hậu nghĩ rằng, nếu mình chết ở Tế Nam, Hải Lăng tất sẽ giết Thế Tông; chi bằng phụng chiếu rời khỏi Tế Nam rồi chết, như vậy Thế Tông có thể được miễn họa. Bà nói với Thế Tông rằng: ‘Thiếp sẽ tự gắng sức giữ mình, quyết không để liên lụy đến Đại vương.’”

Ô Lâm Đáp thị nói với gia thần trong vương phủ rằng: “Xin hãy thay ta hướng về Đông Nhạc Thái Sơn mà cầu khấn. Ta nhất định sẽ không làm bất cứ điều gì có lỗi với Đại vương, nguyện để hoàng thiên hậu thổ soi xét tấm lòng này”. Nghe những lời ấy, mọi người đều cảm động đến rơi lệ.

Sau đó, Ô Lâm Đáp thị dặn dò người nhà rằng: “Các ngươi nhất định phải cẩn trọng, tuân giữ pháp độ của quốc gia, không được tùy tiện làm càn. Sau khi ta chết, hồn phách sẽ dõi xem các ngươi”. Thực ra, lúc ấy bà đã đang âm thầm chuẩn bị hậu sự cho mình.

Ô Lâm Đáp thị rời khỏi Tế Nam. Trên đường đi, rất nhiều thị tùng đều dõi mắt trông chừng bà thật chặt, chỉ sợ bà tự vẫn giữa đường. Khi đoàn người đi đến Lương Hương, là vùng ngoại ô Bắc Kinh, chỉ còn một đoạn nữa là tiến vào kinh thành, mọi người mới thở phào nhẹ nhõm. Không ngờ ngay đêm hôm ấy, Ô Lâm Đáp thị tự vẫn.

Trước khi chết, bà viết cho Thế Tông một bức thư. Bức thư ấy vô cùng cảm động, lời văn cũng rất có khí phách. Trong thư, bà khuyên Thế Tông đừng vì cái chết của mình mà quá đau buồn, mà nên ôm chí báo thù cho bà. Bà viết: “Thiếp mong điện hạ tu sửa đức chính, chỉnh đốn cương kỷ, chiêu nạp anh hùng, chuyên tâm làm vui lòng dân, lấy nhân nghĩa thay cho bạo ngược.”

Câu nói “Lấy nhân nghĩa thay cho bạo ngược” chính là mong dùng đức nhân của Thế Tông để thay thế sự tàn bạo của Hoàn Nhan Lượng. Cuối thư, bà viết: “Thư này là để vĩnh biệt, nghẹn ngào đau xót, không sao nói hết”.

Kim Thế Tông quả thật là một người kiên nhẫn và biết nhẫn nhục. Khi ấy, ông chỉ sai người vội vàng chôn cất bà ngay tại chỗ. Mãi đến sau khi xưng đế, Kim Thế Tông mới truy phong Ô Lâm Đáp thị là Chiêu Đức hoàng hậu, đồng thời truy tặng quan chức và phong hiệu cho ba đời gia tộc của bà, rồi theo đúng lễ nghi mà cải táng.

Sau khi Kim Thế Tông đăng cơ, ông bãi bỏ toàn bộ những chính sách hà khắc mà Hoàn Nhan Lượng từng ban hành, đồng thời tha tội cho những người từng phản kháng chỉ bởi vì không chịu nổi các luật lệ hà khắc ấy. Kim Thế Tông tích cực phát triển nông nghiệp, giảm nhẹ gánh nặng cho dân, chiêu tập dân lưu vong trở về, khai khẩn ruộng đất. Bản thân ông sống tiết kiệm, không chuộng xa hoa. Khi ấy, có quý tộc Nữ Chân xin được ban phần thưởng ngoài lệ, Kim Thế Tông nói: “Tiền bạc trong quốc khố đều là của bách tính. Trẫm chẳng qua chỉ là thay bách tính trông giữ mà thôi. Sao có thể tùy tiện muốn tiêu thế nào thì tiêu như tài sản riêng được?”

Kim Thế Tông rất biết quý trọng sức dân, nhờ vậy mà kinh tế dần hưng thịnh, dân số ngày một tăng. Khi ông vừa lên ngôi, dân số cả nước chỉ có hơn 3 triệu hộ dân, nhưng chỉ sau 20 năm, con số ấy đã tăng lên đến hơn 6 triệu 7 trăm nghìn hộ dân.

Bản thân Kim Thế Tông rất hiểu về điển tịch Hán văn, ông áp dụng tư tưởng Nho gia trong việc trị quốc an dân. Kim Thế Tông đặc biệt coi trọng phẩm hạnh của quan lại, nghiêm trị và bãi miễn tham quan; kẻ nào mà nhân phẩm không tốt, thì dù thành tích khoa cử có xuất sắc đến đâu cũng sẽ không được bổ nhiệm.

Kim Thế Tông lại có thể khiêm nhường tiếp nhận lời can gián. Trong “Kim sử” có rất nhiều ghi chép về những lời hay việc đẹp của ông. Đồng thời, ông vẫn giữ gìn văn hóa riêng và tinh thần thượng võ của người Nữ Chân, ông đã cho dịch các kinh điển Nho gia sang văn bản chữ Nữ Chân. Sử sách gọi Kim Thế Tông là “Tiểu Nghiêu Thuấn”, tức là ví ông như bậc minh quân hiền đức thời thượng cổ. Chỉ một danh xưng ấy cũng đủ thấy phẩm đức của ông là rất cao, và phép trị nước của ông cũng rất mực anh minh.

Ngày 15 tháng 11 năm Long Hưng thứ 2, Tống và Kim đạt được đồng thuận về hòa ước. Biên giới giữa hai nước vẫn giữ nguyên theo “Hòa nghị Thiệu Hưng”, nhưng Nam Tống từ đó không còn xưng thần với nước Kim nữa. Văn thư mà Nam Tống gửi cho nước Kim không còn gọi là “biểu” để dâng lên bề trên; văn thư mà nước Kim gửi cho Nam Tống cũng không còn là “chiếu mệnh” ban xuống cho thuộc quốc. Hai bên đổi sang cách gọi bình đẳng hơn, gọi là “quốc thư”. Đồng thời, khoản tiền mà Nam Tống hằng năm phải giao cho nước Kim cũng không còn gọi là “tuế cống” theo nghĩa cống nạp nữa, mà đổi thành cách gọi là “tuế tệ”. Số lượng tuế tệ cũng cắt giảm: bạc giảm 5 vạn lượng, lụa giảm 5 vạn tấm, cuối cùng còn lại bạc 20 vạn lượng, lụa 20 vạn tấm mỗi năm. 

Tuy vậy, quan hệ giữa hai nước vẫn được định danh là “nước chú — nước cháu”, Nam Tống phải gọi nước Kim là “thúc phụ”. Bản hòa nghị này được ký kết vào năm Long Hưng thứ 2, sử gọi là “Hòa nghị Long Hưng”.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Lưỡng Tống phồn hoa.

Có một điều kỳ lạ xảy ra vào ngày 25/04/1999, đến nay vẫn chưa có lời giải đáp. Đó là một tình tiết trong câu chuyện giữa thủ tướng Trung Quốc thời bấy giờ là ông Chu Dung Cơ và 3 học viên Pháp Luân Công đi cùng ông vào bên ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>