Tập 12: Vấn đề hoạn quan chuyên quyền trong thời kỳ nhà Đường

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 16/08/2026

Sau loạn An Sử, nhà Đường không chỉ phải đối mặt với họa ngoại xâm từ Thổ Phồn, Nam Chiếu và Hồi Hột, mà trong nước còn gặp vấn đề phiên trấn cát cứ, lại thêm tệ nạn hoạn quan can dự triều chính ngày càng nghiêm trọng.

Từ thời Đường Túc Tông trở đi, ngoại trừ Đường Đức Tông, các đời hoàng đế hầu như đều do hoạn quan nâng đỡ mà lên ngôi. Hoạn quan khi ấy có quyền thế rất lớn, bên ngoài thì cấu kết với phiên trấn và triều thần, bên trong nắm giữ cấm quân, thậm chí còn dám phế lập quân vương, gây họa loạn trong chốn cung đình.

Thực ra trước thời Đường Huyền Tông, địa vị của hoạn quan vốn cũng không cao. Với sự anh minh của Đường Thái Tông hoặc sự chuyên đoán của Võ Tắc Thiên, hoàng đế tuyệt đối không để đại quyền rơi vào tay hoạn quan. Vào những năm đầu thời Khai Nguyên, Đường Huyền Tông cũng cần mẫn xử lý việc chính trị, chỉnh đốn triều cương, nên vai trò của hoạn quan vẫn là chưa đáng kể. Nhưng về cuối thời Đường Huyền Tông, hoạn quan bắt đầu từng bước thâu tóm quyền lực.

Vị thái giám đầu tiên có quyền thế khuynh đảo chính là Cao Lực Sĩ. Nhờ tham dự vào chính biến tiêu diệt Thái Bình công chúa, Cao Lực Sĩ được Đường Huyền Tông hết sức tín nhiệm. Chỉ bằng một lời nói, Cao Lực Sĩ có thể khiến Đường Huyền Tông xa lánh Lý Bạch. Khi ấy, từ hoàng tử, công chúa cho đến phò mã đều phải kính nể ông ta ba phần, ngay cả Lý Lâm Phủ và An Lộc Sơn cũng đều phải giao hảo với Cao Lực Sĩ.

Vào niên hiệu Khai Nguyên, nhà Đường chuyển từ chế độ phủ binh sang chế độ mộ binh.

Dưới chế độ phủ binh, quan hệ giữa binh lính và tướng soái là khá lỏng lẻo. Chỉ khi có chiến sự, triều đình mới bổ nhiệm tướng quân tạm thời thống lĩnh quân sĩ từ các phủ binh địa phương được điều động lên, còn khi chiến tranh kết thúc thì binh lính lại trở về quê quán, tướng soái cũng phải giao trả binh quyền. Vì vậy, hoàng đế có thể khá yên tâm mà sử dụng tướng lĩnh.

Nhưng khi chuyển sang chế độ mộ binh, giữa tướng soái và binh lính dần hình thành quan hệ thân cận mang tính cá nhân, thậm chí binh lính còn trở thành thuộc hạ riêng của tướng lĩnh. Đến lúc này, để có thể khống chế tướng lĩnh, hoàng đế thường phải thiết lập chức giám quân, tức là phái hoạn quan trong cung đến, đại diện thiên tử để giám sát toàn bộ hành động quân sự của tướng chỉ huy.

Khi này, quyền lực của những hoạn quan này thậm chí còn vượt trên cả tướng lĩnh cầm quân, trong khi bản thân họ lại không am hiểu binh pháp. Hệ quả là quân Đường nhiều phen xuất chinh thất bại.

Trước đó, khi loạn An Sử vừa mới bùng phát, Lạc Dương thất thủ, Cao Tiên Chi và Phong Thường Thanh phải lui về cố thủ ở Đồng Quan, từ đó có thể chặn thế tiến quân của An Lộc Sơn. Khi ấy, hoạn quan Biên Lệnh Thành làm chức giám quân, do hắn đòi hối lộ nhưng không được đáp ứng, nên đã vu cáo rằng Cao Tiên Chi và Phong Thường Thanh tham ô, khiến hai người bị vu oan mà chết.

Đến khi chín vị tiết độ sứ hợp binh vây đánh An Khánh Tự ở Nghiệp Thành, thì lại vì giám quân là hoạn quan Ngư Triều Ân, người này không hiểu quân sự, làm bỏ lỡ thời cơ công kích. Sau đó lại gặp một trận cuồng phong, khiến quân Đường đại bại.

Khi Lý Quang Bật cùng Sử Tư Minh giằng co tại Hà Dương, vẫn chính là Ngư Triều Ân gây loạn, trong lúc thời cơ chưa tới mà lại cưỡng ép xuất quân. Kết cục không những không thắng, mà ngay cả Hà Dương cũng bị chiếm mất.

Vào thời Đường Túc Tông và Đường Đại Tông, có ba hoạn quan quyền thế rất lớn. Ngư Triều Ân là một trong số đó, hai người còn lại là Lý Phụ Quốc và Trình Nguyên Chấn.

Lý Phụ Quốc ban đầu theo Thái tử Lý Hanh chạy lên phương bắc, tổ chức lực lượng quân sự để bình định loạn An Sử. Khi ấy, tại Linh Vũ, Lý Phụ Quốc đã khuyên Lý Hanh đăng cơ. Vì thế về sau khi Lý Hanh lên ngôi, tức là Đường Túc Tông, ông liền cho rằng Lý Phụ Quốc là bậc trung thành tận tụy, bèn cho Lý Phụ Quốc tham gia chính sự, lại còn trao quyền thống lĩnh cấm quân. Đây chính là mở màn cho một tiền lệ cực kỳ tai hại: từ đó về sau, quân đội trong cung dần rơi vào quyền kiểm soát của hoạn quan.

Không chỉ vậy, Đường Túc Tông còn trao cho Lý Phụ Quốc quyền kiểm soát và ban hành chiếu lệnh, mọi tấu chương từ bốn phương đều phải qua tay Lý Phụ Quốc thì mới được dâng lên hoàng đế. Đến cả tể tướng khi gặp Lý Phụ Quốc thì cũng phải hành lễ.

Lý Phụ Quốc là kẻ có dung mạo vô cùng xấu xí, thế nhưng bề ngoài lại làm ra vẻ như người tu hành, ông ta không ăn đồ tanh, khi làm xong việc công thì lúc rảnh lại cầm tràng hạt niệm Phật, khiến nhiều người lầm tưởng ông ta là hiền lành, lương thiện. Nhưng thực chất, thủ đoạn của Lý Phụ Quốc là cực kỳ tàn nhẫn. Ông ta từng cấu kết với Trương Lương Đễ, tức là hoàng hậu của Đường Túc Tông, họ đã hãm hại và khiến Kiến Ninh vương Lý Đàm – con trai của Đường Túc Tông – phải chết oan.

Năm 757, Đường Túc Tông thu phục được Trường An, ông liền phái người nghênh đón Đường Huyền Tông trở về. Bởi vì Lý Phụ Quốc xuất thân hèn kém, Đường Huyền Tông rất coi thường ông ta. Lý Phụ Quốc biết được điều này, vì muốn trả thù, hắn bèn sai 500 kỵ binh rút đao, rồi “thỉnh” Đường Huyền Tông dời từ Hưng Khánh cung sang Tây Nội — thực chất chính là uy hiếp.

Trong Tư Trị Thông Giám chép rằng: “Thượng hoàng kinh, cơ trụy”, tức là Thái thượng hoàng đã kinh hãi đến mức suýt ngã khỏi ngựa. Cao Lực Sĩ thấy thế, lập tức lớn tiếng quát Lý Phụ Quốc không được vô lễ, lúc này hắn mới bất đắc dĩ xuống ngựa.

Sau đó, Lý Phụ Quốc đã điều hết những người thân cận hầu hạ Đường Huyền Tông đi nơi khác, chỉ để lại vài kẻ già yếu bệnh tật để lo việc quét dọn. Những người mà Đường  Huyền Tông tin cậy nhất như Trần Huyền Lễ, Cao Lực Sĩ… đều dần bị dời đi. Hình bộ Thượng thư Nhan Chân Khanh đã dẫn đầu bá quan đến dâng biểu và hỏi thăm sinh hoạt của Thái thượng hoàng, chỉ có thế mà đã bị Lý Phụ Quốc ghi hận, giáng chức ông xuống làm Trường sử Bồng Châu.

Còn Đường Huyền Tông từ đó sống trong cảnh gần như là bị giam lỏng, cô độc u uất, rồi ông lặng lẽ lâm bệnh rồi qua đời.

Khi Thái thượng hoàng Đường Huyền Tông lâm bệnh, thì con ông là Đường Túc Tông cũng đồng thời phát bệnh. Trương hoàng hậu căm ghét việc Lý Phụ Quốc chuyên quyền, bèn triệu con thứ của Đường Túc Tông là Việt vương Lý Hệ đến, họ cùng bàn mưu để phát động chính biến, nhằm tiêu diệt Lý Phụ Quốc và Trình Nguyên Chấn. Nhưng sự việc đã bị ‘tai mắt’ của Lý Phụ Quốc phát giác.

Lý Phụ Quốc lập tức bố trí phục binh trong cung, giết chết Trương hoàng hậu và Việt vương Lý Hệ. Trong cơn biến loạn ấy, Đường Túc Tông kinh hãi mà qua đời. Sau đó, Lý Phụ Quốc lập Đường Đại Tông lên ngôi.

Khi Đường Đại Tông lên ngôi, Lý Phụ Quốc còn nói một câu rằng: “Đại gia cứ ở trong cấm cung, mọi việc bên ngoài cứ để lão nô xử trí”. Ý câu này là: hoàng thượng chỉ cần ở trong cung, còn thiên hạ đại sự đều do ta quyết định.

Câu nói này làm người ta liên tưởng đến hoạn quan Triệu Cao, cũng từng che mắt Tần Nhị Thế, từ đó dẫn đến việc nhà Tần diệt vong.

Thế nhưng Đường Đại Tông không phải Tần Nhị Thế, ông không thể dung thứ cho việc Lý Phụ Quốc chuyên quyền, nên đã tìm cách để từng bước chuyển giao quyền lực của Lý Phụ Quốc sang cho hoạn quan Trình Nguyên Chấn. Đường Đại Tông làm việc này rất khéo, đến lúc Lý Phụ Quốc hiểu ra thì đã muộn.

Khi Lý Phụ Quốc thấy rằng quyền lực đã dần bị tước đoạt hết, lúc này hắn mới hiểu ra. Lý Phụ Quốc bỗng chốc như kẻ mất hồn, lên tiếng than thở rằng: “Lão nô tội đáng chết, không thể phò tá lang quân nữa, xin xuống dưới đất để hầu hạ tiên đế.” Ý là oán trách rằng: ta vốn đáng chết, nay ngươi đã đủ lông đủ cánh, ta cũng quản không nổi, chi bằng xuống cõi âm mà phụng sự tiên đế.

Bề ngoài, Đường Đại Tông vẫn đối đãi với Lý Phụ Quốc rất khách khí. Nhưng không lâu sau, có kẻ đột nhập vào nhà của Lý Phụ Quốc trong đêm tối, chém lấy thủ cấp rồi mang đi. Có người cho rằng tên thích khách ấy là do Đường Đại Tông phái đến, cũng có thuyết cho rằng Trình Nguyên Chấn mới là kẻ đứng sau sai khiến.

Và kể từ đó, hoạn quan Trình Nguyên Chấn được Đường Đại Tông phong làm Phiêu Kỵ Đại tướng quân, ban tước Bân Quốc công. Thế rồi ông này lại dần đi vào vết xe đổ của Lý Phụ Quốc, Trình Nguyên Chấn ngày càng trở nên kiêu căng ngang ngược, thậm chí còn hơn cả Lý Phụ Quốc khi trước.

Trình Nguyên Chấn từng nhiều lần sai khiến Tiết độ sứ Tương Dương là Lai Chấn phải lo việc riêng cho mình. Lai Chấn vốn là đại thần có công trong việc dẹp yên loạn An Sử, lại là người rất trọng danh tiết, không chịu nịnh bợ hoạn quan, thế nên đã bị Trình Nguyên Chấn ghi hận.

Về sau, Lai Chấn được triệu về kinh thành, giữ chức Binh bộ Thượng thư, kiêm Đồng Trung thư Môn hạ Bình chương sự, tức là chức tể tướng. Nhưng rồi lại bị Trình Nguyên Chấn vu hãm, rồi bị kết án lưu đày, trên đường đi lưu đày thì bị ban chết.

Từ đó, các tiết độ sứ trong thiên hạ đều sinh lòng oán hận Trình Nguyên Chấn. Lại có một vị tể tướng khác là Bùi Miện, cũng vì đắc tội với Trình Nguyên Chấn mà bị bãi chức.

Năm 763, chỉ 2 năm sau khi Đường Đại Tông lên ngôi, vào tháng chín, Thổ Phồn dẫn đại quân tấn công nhà Đường. Các tiết độ sứ vùng Quan Tây vì oán hận Trình Nguyên Chấn nên họ đều không chịu xuất binh cứu viện, khiến Đường Đại Tông buộc phải rời bỏ kinh thành Trường An, chật vật chạy về phía đông.

Khi ấy, quan Thái Thường bác sĩ Liễu Kháng đã dâng sớ, thẳng thắn chỉ trích Trình Nguyên Chấn làm hại quốc gia, xin đem chém đầu hắn để tạ tội với muôn dân trăm họ. Trong thế bất đắc dĩ, Đường Đại Tông đã cách chức Trình Nguyên Chấn, cho hắn về quê. Về sau lại cho lưu đày, rồi chết dọc đường. 

Nhìn lại, kẻ chuyên quyền hại nước, cuối cùng cũng khó thoát khỏi báo ứng.

Sau Trình Nguyên Chấn, hoạn quan nắm quyền kế tiếp là Ngư Triều Ân. Khi đại quân của Thổ Phồn tấn công Trường An, Đường Đại Tông phải bỏ kinh thành mà chạy, chính Ngư Triều Ân đã dẫn quân hộ giá, bảo vệ an toàn cho hoàng đế. Từ đó, Ngư Triều Ân được Đường Đại Tông tin cậy, cho phép thống lĩnh cấm quân.

Ngư Triều Ân cũng có chút hiểu biết về văn chương và kinh điển Nho gia, thế nhưng đã tự cho mình là văn võ toàn tài, lại thường xuyên trước mặt bá quan mà đàm luận thao thao bất tuyệt, ra vẻ hiểu biết chính sự. Bởi vì hắn rất được lòng hoàng đế, nên các quan đều im lặng, không ai dám lên tiếng, sợ sẽ chuốc vạ vào thân.

Lúc bấy giờ, tể tướng Nguyên Tải đã bất mãn với Ngư Triều Ân, tể tướng đã nhiều lần hạch tội ông ta ngay trước mặt Đường Đại Tông. Mà khi đó, chính Đường Đại Tông cũng ngày càng bất mãn trước sự ngang ngược của Ngư Triều Ân, nên đã nhân một lần yến tiệc trong cung, ra tay giết chết ông ta.

Ngư Triều Ân chết rồi, Đường Đại Tông không còn giao cho hoạn quan chức thống lĩnh cấm quân nữa. Sau thời Đường Đại Tông là Đường Đức Tông. Đức Tông tại vị tổng cộng 26 năm, thọ 64 tuổi. Vì đăng cơ khi còn đang độ tráng niên, hoàng đế vốn cũng muốn có những cải cách, và cũng phần nào kiềm chế được thế lực hoạn quan.

Thế nhưng đến khi xảy ra Kính Nguyên binh biến, người đến hộ giá lại chính là… hoạn quan, gồm Đậu Văn Trường và Hoắc Tiên Minh. Đường Đức Tông nhìn thấy, trong cơn nguy biến dường như chỉ có hoạn quan là gần gũi và bảo vệ mình, vì thế ông bắt đầu tin dùng hoạn quan, thế lực hoạn quan lại một lần nữa trỗi dậy.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Lưỡng Tống phồn hoa

Từ Hiên Viên Hoàng Đế 2 lần đi tìm Quảng Thành Tử cầu Đạo, Khổng Tử hướng đến Lão Tử học Đạo, rồi đến Phật giáo từ Ấn Độ truyền nhập về phương Đông; Nho, Phật, Đạo đã đặt định ra văn hóa trọng Đức hành Thiện, tin vào nhân quả ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>