Tháng 12 năm 880, giặc Hoàng Sào đánh vào Trường An, Đường Hy Tông bỏ kinh thành rồi chạy vào đất Thục. Hoàng Sào ra lệnh tàn sát hoàng tộc họ Lý, rồi lại tiếp tục đại khai sát giới trong thành, cướp bóc dân thường, khiến thành Trường An chìm trong biển máu. Hắn còn gọi đó là “tẩy thành”.
Hoàng Sào chiếm cứ Trường An suốt 3 năm, lương thực cạn kiệt, bèn lấy thịt người làm thức ăn, tạo nên một cảnh địa ngục nhân gian. Thiên hạ mong chờ một người tài xuất thế, để có thể đánh bại giặc Hoàng Sào.
Có một người có vai trò quan trọng trong việc bình định loạn Hoàng Sào, đồng thời cũng là nhân vật phong vân trong thời Ngũ Đại Thập Quốc, ông chính là vua của người Sa Đà, tên là Lý Khắc Dụng.
Người Sa Đà vốn là một bộ lạc thuộc Tây Đột Quyết, gọi là Xứ Nguyệt, họ cư trú quanh hồ Ba Lý Khôn ở vùng Tân Cương ngày nay, phía bắc Hami, cách trở bởi dãy Thiên Sơn, cách không xa là vùng đất Cam Túc. Khu vực này từng trực thuộc Bắc Đình đô hộ phủ của Đại Đường.
Do vùng ấy có sa mạc gọi là “Sa Đà”, nên bộ tộc này được gọi là Sa Đà Đột Quyết. Khi loạn An Sử bùng phát, người Sa Đà từng theo Hồi Hột trợ giúp nhà Đường đánh dẹp phản loạn. Về sau, Hồi Hột ngày càng cường thịnh, lại áp bức hà khắc, người Sa Đà không chịu nổi, bèn quay sang nương tựa Thổ Phồn. Thế nhưng Thổ Phồn đối đãi với họ cũng không tốt, người Sa Đà lại một lần nữa quy thuận Đại Đường. Trải qua nhiều phen lưu lạc, cuối cùng họ định cư ở vùng Hà Đông, tức khu vực bắc Sơn Tây ngày nay.
Đến thời Đường Vũ Tông, thủ lĩnh của người Sa Đà là Chu Tà Xích Tâm. Chữ “Chu Tà” vốn là âm dịch, thực chất đây là một cách ghi khác của tên bộ lạc Xứ Nguyệt xưa kia.
Chu Tà Xích Tâm nhiều lần lập đại công cho Đại Đường: giúp Đường Vũ Tông dẹp loạn Trạch Lộ, phò trợ Đường Tuyên Tông đánh bại Thổ Phồn, lại giúp Đường Ý Tông bình định loạn Bàng Huân. Chu Tà Xích Tâm lập chiến công liên tiếp, thanh thế hiển hách. Vì thế, Đường Ý Tông đã ban cho ông họ Lý, đổi tên thành Lý Quốc Xương, phong làm Chấn Vũ tiết độ sứ. Từ đây, kỵ binh Sa Đà danh chấn thiên hạ.
Con trai của Lý Quốc Xương chính là Tấn vương Lý Khắc Dụng, người về sau được truy tôn là Hậu Đường Thái Tổ.
Cha con Lý Quốc Xương từng có lúc xung đột với triều Đường. Đến khi giặc Hoàng Sào chiếm cứ Trường An lần thứ 2 và tiến hành đồ sát người dân, thì Hà Trung tiết độ sứ – Vương Trọng Vinh cho rằng bản thân khó lòng chống đỡ thế giặc. Vậy nên, hoạn quan Dương Phục Quang đã tiến cử Lý Khắc Dụng.
Vì thế, Lý Khắc Dụng phụng chiếu “cần vương”, ông thống lĩnh kỵ binh Sa Đà nhanh chóng thẳng tiến xuống phía nam. Đội quân này đều mặc áo đen, nên được gọi là “Nha quân”, ý nói là đen như lông quạ.
Lý Khắc Dụng rất dũng mãnh thiện chiến. Trong Cựu Ngũ Đại Sử chép rằng: Lý Khắc Dụng từng cùng với người Thát Đát tỷ thí. Khi ấy có hai con chim ưng bay trên không trung, người Thát Đát chỉ lên rồi nói: “Ngươi có thể một tiễn mà bắn trúng không?” Lý Khắc Dụng liền giương cung, một mũi tên bắn trúng cả hai con chim — đúng là nhất tiễn hạ song điêu. Người Thát Đát vì thế mà hết sức khâm phục.
Từ năm 15 tuổi, Lý Khắc Dụng đã theo quân chinh phạt loạn Bàng Huân, mỗi khi đánh trận, ông đều xung phong đi đầu, vô cùng dũng mãnh thiện chiến. Chỉ tiếc, ông là người độc nhãn — một mắt đã không còn nhìn thấy.
Lúc này, tình cảnh của giặc Hoàng Sào đã vô cùng khốn quẫn. Quân lương thiếu hụt trầm trọng, mà bản chất chính quyền của Hoàng Sào lại là “lưu khấu”. Hoàng Sào không có căn cứ ổn định, chỉ biết mang đại quân đi phiêu bạt khắp nơi, dựa vào cướp bóc mà tồn tại. Bởi vậy, tuy rằng Hoàng Sào đã xưng đế, nhưng phạm vi kiểm soát thực tế cũng chỉ là quanh quẩn tại Trường An và một số vùng phụ cận.
Trong đám thủ hạ dưới trướng, đại tướng Chu Ôn được phong làm Đồng Châu phòng ngự sử (nay thuộc Đại Lệ, Thiểm Tây). Khi thấy thế cục của Hoàng Sào ngày càng bất lợi, đến tháng 9 năm 882, Chu Ôn liền quy thuận Đại Đường, rồi được ban tên mới là Chu Toàn Trung.
Cùng lúc đó, tại Hoa Châu đã xảy ra binh biến, đây là khu vực nay thuộc Hoa huyện, Thiểm Tây, là vùng đất trước kia do Hoàng Sào khống chế. Khi ấy, đội quân cũ của nhà Đường đã nổi dậy, trục xuất quan lại do Hoàng Sào bổ nhiệm, rồi dâng thành quy phục Hà Trung tiết độ sứ Vương Trọng Vinh.
Tháng 12 năm 882, Lý Khắc Dụng dẫn quân nam hạ, đại quân uy mãnh tiến đến Hà Trung. Khi nghe tin Nha quân của Lý Khắc Dụng đang tiến tới, quân Hoàng Sào lập tức rối loạn, họ truyền tai nhau: “Nha quân đến rồi, phải mau tránh đi!”
Ngày mùng 1 tháng giêng năm 883, Lý Khắc Dụng đánh bại tướng Hoàng Qũy — em của Hoàng Sào — rồi chiếm được Sa Uyển (phía đông nam Đại Lệ, Thiểm Tây). Đến ngày 15 tháng 2, Lý Khắc Dụng lại đánh tan 15 vạn đại quân của Thượng Nhượng, tiêu diệt hàng vạn quân địch. Ngày mùng 5 tháng 4, Lý Khắc Dụng công phá Trường An. Nhưng sau khi vào thành, quân Đường cũng phóng hỏa, giết chóc, cướp bóc, không khác gì đám phản quân của giặc Hoàng Sào.
Những việc ấy, hậu nhân đọc xong thì không khỏi đau lòng. Quân phản loạn của Hoàng Sào, cùng với cái gọi là quan quân dẹp loạn của nhà Đường, họ đều đem tai họa giáng xuống bách tính Trường An. Thật đúng như câu: “Kho tàng thành tro, gấm thành bụi, đường lớn trong thành chất xương khô.” Đến buổi mạt thế của triều đại, quan và giặc không còn khác biệt, thì vận nước cũng đã tận.
Năm ấy, Lý Khắc Dụng mới 28 tuổi. Ông không truy kích giặc Hoàng Sào, mà quay về Nhạn Môn (nay thuộc Đại huyện, Sơn Tây). Sau đó, triều Đường phong Lý Khắc Dụng làm Hà Đông tiết độ sứ, trị sở tại Thái Nguyên. Cha ông là Lý Quốc Xương thì được bổ nhiệm làm Đại Bắc tiết độ sứ, đóng quân tại Nhạn Môn.
Sau khi rời Trường An, Hoàng Sào đem theo rất nhiều tài vật cướp được, nhưng dọc đường lại cố ý vứt bỏ rải rác. Quân lính nhà Đường thấy của cải, liền tranh nhau thu nhặt, đội ngũ vì thế mà tán loạn, tiến quân chậm chạp, Hoàng Sào ung dung chạy thoát thân.
Tiếp đó, Hoàng Sào sai đại tướng Mạnh Khải tiến đánh Thái Châu (nay thuộc Nhữ Nam, Hà Nam). Tiết độ sứ Thái Châu là Tần Tông Quyền dẫn quân nghênh chiến nhưng thất bại, sau đó đã đầu hàng Hoàng Sào.
Thực ra, loạn Hoàng Sào có thể chia thành 3 giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất do Vương Tiên Chi cầm đầu, đến năm 878 thì bị giết. Giai đoạn thứ hai là thời kỳ Hoàng Sào làm thủ lĩnh, kéo dài thêm 6 năm kể từ khi Vương Tiên Chi tử trận. Giai đoạn thứ ba chính là loạn của Tần Tông Quyền.
Tháng sáu, Hoàng Sào cho quân tiến công Trần Châu (nay thuộc Hoài Dương, Hà Nam). Tại đây đã diễn ra một trận chiến thủ thành vô cùng thảm liệt. Thứ sử Trần Châu là Triệu Thù đã dùng kế “kiên bích thanh dã”, cho dồn toàn bộ lương thực trong phạm vi sáu mươi dặm vào trong thành, rồi tử thủ giữ thành, cũng có lúc dẫn quân đột kích. Chiến thuật này đã rất hiệu quả, không những nhiều lần đánh bại giặc Hoàng Sào, mà còn chém được đại tướng Mạnh Khải của đối phương.
Giặc Hoàng Sào vì thiếu lương thực, bèn chia ra bốn phía để cướp bóc, phạm vi đánh cướp lan đến tận Quyên Thành, Trịnh Châu, Lạc Dương ở phía tây bắc, thậm chí cả Từ Châu thuộc Giang Tô cũng chịu cảnh đồ thán. Khi không có lương thực, giặc Hoàng Sào lại ăn thịt người, mỗi ngày giết và ăn đến mấy nghìn người. Giặc Hoàng Sào lùng bắt dân thường rồi cho vào cối lớn, dùng chày giã nát, trộn cả xương thịt mà ăn.
Hoàng Sào vây hãm Trần Châu suốt 300 ngày, giao chiến hàng trăm trận lớn nhỏ, nhưng rốt cuộc vẫn không thể công hạ được thành. Triệu Thù bèn cầu cứu các châu quận lân cận. Các tiết độ sứ quanh vùng dẫn quân đến cứu viện, trong đó có Tuyên Vũ tiết độ sứ Chu Toàn Trung và Hà Đông tiết độ sứ Lý Khắc Dụng. Đại quân cứu viện lập tức đánh bại Hoàng Sào.
Sau khi bại trận, giặc Hoàng Sào tan rã mà chạy về phía bắc, rồi tiến đánh Biện Châu (nay là Khai Phong, Hà Nam), đây là đại bản doanh của Chu Toàn Trung. Mà Chu Toàn Trung chính là Chu Ôn, là thủ hạ cũ của Hoàng Sào, nay đã quy thuận nhà Đường. Chu Toàn Trung thấy tình thế nguy cấp, liền vội phái người cầu cứu Lý Khắc Dụng.
