Tập 43: Sài Vinh dẫn quân nam hạ, đánh bại Nam Đường, thu phục vùng đất rộng lớn

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 16/08/2026

Trong trận Cao Bình đánh với Bắc Hán, mặc dù Hậu Chu đã giành được thắng lợi vang dội, nhưng Hoàng đế Sài Vinh đã nhận ra rằng sức chiến đấu của cấm quân có vấn đề rất lớn.

Bởi vì vào thời Ngũ Đại Thập Quốc, hoàng đế thường là do cấm quân tôn lập, nên họ luôn lo sợ cấm quân làm phản, vì thế mà đã dung túng hết mức, chỉ sợ cấm quân bất mãn, cũng không dám tinh giản quân ngũ, sợ sẽ có biến. Sài Vinh cho rằng nuôi quân tiêu hao cực lớn, nếu trong cấm quân có quá nhiều tàn binh già yếu thì chỉ là lãng phí lương thực. Hơn nữa, bất kể tuổi tác hay công lao, đãi ngộ đều như nhau, vậy chẳng khác nào khuyến khích binh sĩ không cần cố gắng lập công.

Cách làm của Sài Vinh rất khôn khéo: ông tập trung những binh sĩ tinh tráng, cho vào nhóm  “Thượng quân”, còn những người già yếu thì nhất loạt loại bỏ ra khỏi quân ngũ. Như vậy không chỉ tiết kiệm ngân sách, mà còn khiến sức chiến đấu của quân đội tăng lên đáng kể.

Không dừng ở đó, Sài Vinh còn hạ lệnh cho các châu huyện chiêu mộ dũng sĩ, đưa về kinh sư, giao cho Triệu Khuông Dận tuyển chọn những người tinh nhuệ nhất để làm cấm quân. Nhờ vậy, trong thời gian ngắn, Sài Vinh đã gây dựng được một đội quân hùng mạnh.

Sau khi giành thắng lợi ở trận Cao Bình, Sài Vinh đã nuôi chí lớn muốn thống nhất thiên hạ. Ông trị quốc rất nghiêm cẩn: cầu tìm hiền tài, lắng nghe can gián, không sống xa xỉ, chú trọng tiết kiệm chi phí, lại thưởng công phạt tội phân minh, lấy thành tín mà đãi người. Sài Vinh nghe theo kiến nghị của Tỷ bộ lang trung Vương Phác, định ra sách lược thống nhất Trung Nguyên theo thứ tự “trước dễ sau khó, trước nam sau bắc”.

Bấy giờ, phía nam của Hậu Chu có hai nước trực tiếp giáp biên giới: một là Hậu Thục ở phía tây, hai là Nam Đường ở phía đông.

Hoàng đế khai quốc Hậu Đường là Lý Tồn Úc đã từng phái Quách Sùng Thao làm đại tướng, tiêu diệt nước Tiền Thục. Nhưng sau đó Quách Sùng Thao bị vướng vào án oan mà qua đời, khiến triều chính Hậu Đường rơi vào hỗn loạn.

Triều đình Hậu Đường bổ nhiệm Mạnh Tri Tường làm Tiết độ sứ Tây Xuyên. Về sau, Mạnh Tri Tường không chỉ chiếm giữ Tây Xuyên, mà còn thôn tính cả Đông Xuyên. Vào năm 934, Mạnh Tri Tường xưng đế, lập nên nước Hậu Thục. Sau khi ông qua đời, con là Mạnh Sưởng kế vị.

Đất Thục tức là vùng Tứ Xuyên, nơi này địa thế khá khép kín, đường vào chủ yếu chỉ có hai lối: một là từ phía bắc, qua Thiểm Tây tiến vào Hán Trung, hai là từ phía đông, ngược dòng Trường Giang mà lên. Chỉ cần giữ vững hai cửa ngõ này, thì bồn địa Tứ Xuyên gần như trở thành nơi hiểm yếu khó mà xâm phạm.

Vì thế, khi Trung Nguyên chìm trong loạn lạc liên miên, thì Tứ Xuyên lại phát triển tương đối yên ổn. Cả nông nghiệp, thương nghiệp đều hưng thịnh, kinh tế khá phồn vinh.

Đến năm 955, Sài Vinh hạ lệnh tấn công Hậu Thục, đại quân nhanh chóng chiếm được 4 châu, đều thuộc vùng Cam Túc.  Năm 956, Sài Vinh hạ lệnh tiến công Nam Đường. Hoàng đế Nam Đường lúc ấy là Lý Cảnh.

Đến cuối đời Đường, khi thiên hạ đại loạn, vị tiết độ sứ chiếm cứ Hoài Nam là Dương Hành Mật. Về sau, con ông là Dương Ốc đã lập quốc xưng vương, nhưng thực quyền lại nằm trong tay đại tướng Từ Ôn. 

Sau khi Từ Ôn qua đời, con nuôi là Từ Tri Cáo kế thừa quyền lực. Đến năm 937, Từ Tri Cáo xưng đế lập quốc. Ông vốn có họ Lý, nên đã khôi phục lại danh tính, đổi tên thành Lý Biện, tự nhận là hậu duệ đời thứ tư của Kiến vương Lý Khác, con của Đường Hiến Tông, đồng thời đổi quốc hiệu thành “Đường”, sử gọi là Nam Đường.

Khi Hậu Chu Thế Tông – Sài Vinh tiến đánh nước Nam Đường, thì quốc gia này đã có thực lực khá hùng hậu, chiếm giữ một vùng rộng lớn gồm An Huy, Giang Tô, Lưỡng Hồ, Giang Tây và Phúc Kiến.

Bấy giờ, triều đình Nam Đường chú trọng văn trị, văn hóa nghệ thuật phát triển rực rỡ, cả văn học, mỹ thuật, âm nhạc đều đạt được nhiều thành tựu. Lại thêm chính sách khuyến khích nông nghiệp và thương nghiệp, nên trong bối cảnh Ngũ Đại Thập Quốc hỗn loạn ở phương bắc, thì phương nam lại hiện ra một cảnh tượng thái bình phồn thịnh.

Thế nhưng, Nam Đường tuy văn thịnh mà võ suy. Trong các năm từ 955 đến 958, Hậu Chu đã ba lần tiến đánh, thủy quân Hoài Hà của Nam Đường đã bị tiêu diệt hoàn toàn, quân thế tan vỡ như núi lở, một đường tháo chạy.

Hoàng đế Lý Cảnh của Nam Đường đã buộc phải dâng biểu lên Sài Vinh, xin dâng hết vùng đất phía bắc Trường Giang, gồm 14 châu Hoài Nam cùng hai huyện thuộc Ngạc Châu ở phía bắc sông. Từ đó, Nam Đường và Hậu Chu lấy Trường Giang làm ranh giới.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Lưỡng Tống phồn hoa

Có một điều kỳ lạ xảy ra vào ngày 25/04/1999, đến nay vẫn chưa có lời giải đáp. Đó là một tình tiết trong câu chuyện giữa thủ tướng Trung Quốc thời bấy giờ là ông Chu Dung Cơ và 3 học viên Pháp Luân Công đi cùng ông vào bên ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>