Tập 44: Sài Vinh ra lệnh ‘diệt phật’, nhà Hậu Chu nhanh chóng suy vong

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 16/08/2026

Khi Hậu Chu Thế Tông – Sài Vinh tại vị, cục diện thiên hạ hết sức có lợi cho Hậu Chu, đặc biệt là trong việc tái thống nhất Trung Nguyên. Bản thân Sài Vinh lại thường thân chinh ra trận, đại quân của ông tung hoành nam bắc, thế như chẻ tre.

Sau khi lần lượt đánh bại Hậu Thục và Nam Đường, thì phương Nam đã không còn là mối lo. Vì thế, Sài Vinh tiếp tục chỉnh đốn quân đội, chuẩn bị cho một trận quyết chiến: tiêu diệt Bắc Hán, thu phục Yên Vân, hoàn thành đại nghiệp nhất thống thiên hạ.

Trong thời của Hậu Chu Thế Tông – Sài Vinh, cường địch lớn nhất ở phương Bắc là nước Liêu, lúc ấy do Liêu Mục Tông cai trị. Thế nhưng Liêu Mục Tông còn trẻ, ông ham mê tửu sắc và chơi bời, ngày đêm chè chén say sưa, uống rượu thâu đêm tới tận sáng, rồi ngủ đến tận trưa mới dậy, người dân trong nước gọi ông là “Thụy vương”, tức là “vua ngủ”. Bởi vậy, nước Liêu không thể tạo thành uy hiếp đáng kể đối với Hậu Chu.

Còn về phía Bắc Hán, sau khi bại trận năm 954, Lưu Sùng u uất mà qua đời. Con là Lưu Thừa Quân kế vị, quốc lực ngày càng suy yếu. Trong khi đó, Chu Thế Tông – Sài Vinh sau khi bình định Cam Túc và Hoài Nam, quốc lực ngày càng mạnh mẽ, lại thêm quân đội được chỉnh đốn nghiêm minh, chiến lực rất mạnh. Vì thế, Sài Vinh quyết định phát động một cuộc tấn công quy mô lớn lên phía Bắc, mục đích là để thống nhất thiên hạ.

Thế nhưng ngay khi đang ở thế mạnh mẽ, thì nước Hậu Chu lại suy vong rất nhanh. Đây là do một điều trong quốc sách sai lầm của Sài Vinh, đó là ông đã ban chiếu diệt phật, đàn áp Phật giáo trên quy mô lớn.

Trong lịch sử Phật giáo có bốn lần đại pháp nạn, đó là những cuộc đàn áp Phật giáo quy mô lớn do các hoàng đế phát động. Những hoàng đế phát động diệt phật được gọi chung là “Tam Vũ nhất Tông” gồm có: Bắc Ngụy Thái Vũ Đế, Bắc Chu Vũ Đế, Đường Vũ Tông, và cuối cùng là Hậu Chu Thế Tông Sài Vinh. Thực sự thì những vị hoàng đế này đều là những nhân vật tài năng kiệt xuất, họ rất có năng lực và cũng lập được không ít chiến công. Thế nhưng, họ lại đứng về phía đối nghịch với Phật pháp, gây nên đại họa vô hình về sau, và sự nghiệp của họ cũng kết thúc rất nhanh.

Năm 955, Hậu Chu Thế Tông – Sài Vinh ban chiếu đàn áp Phật giáo. Ngoài những tự viện có biển ngạch do hoàng đế đặc chuẩn cho xây dựng, thì còn lại đều bị phá bỏ. Người nào muốn xuất gia thì bắt buộc phải được toàn bộ thành viên trong gia tộc đồng ý, kể cả ông bà và các bậc thúc bá. Ngoài ra, chỉ cho phép lập giới đàn ở một vài thành thị nhất định để làm lễ cạo tóc thụ giới. Kết quả là trong toàn nước có tới hơn 3 vạn ngôi chùa bị phá hủy.

Việc diệt phật của Hậu Chu Thế Tông chủ yếu nhằm giải quyết vấn đề tài chính. Ngày mùng 1 tháng 9 năm ấy, ông lại hạ chiếu thu gom toàn bộ đồ đồng trong dân gian cùng với tượng Phật, giao nộp cho quốc gia, do nhà nước đứng ra thu mua. Trong vòng 50 ngày, ai dám không nộp và bị phát hiện còn giấu 5 cân đồng trở lên, thì có thể bị xử tử.

Khi ấy, Sài Vinh còn đưa ra một lập luận rất lệch lạc rằng: “Phật có thể xả thân cứu người, lẽ nào lại tiếc mấy pho tượng đồng mà không cứu thiên hạ?”

Lời của Sài Vinh cũng giống như nói: Ta biết người đó rất hào phóng, ta lấy tiền của họ thì chắc họ cũng không tiếc. Thế nhưng đây là hai chuyện hoàn toàn khác. Người ta tự nguyện cho thì đó là rộng lượng, còn nếu họ không cho mà dám mình tự ý lấy, thì đó là trộm cướp. Cũng như vậy, Phật ban cho là một chuyện, còn tự mình cưỡng đoạt lại là chuyện khác.

Một con người, một dân tộc, trong cuộc đời gặp vui hay khổ, theo cách nhìn của Phật gia thì đó đều là do nghiệp báo luân hồi. Đời này hoặc những đời trước đã tạo nghiệp bất thiện, thì phải chịu khổ để hoàn trả. Bởi vậy, trong con mắt của người tu Phật, một đại hạnh trong đời người chính là ít làm điều ác, hoặc không làm điều ác, như vậy về sau tự nhiên sẽ đắc được phúc báo.

Muốn đối tốt với một người thì phải dùng chính đạo mà khuyên răn. Vì thế, những người hoằng dương Phật pháp chính là giảng rõ đạo lý thiện ác, khiến con người không làm việc xấu, do đó mà tích được công đức. Nho gia cũng nói: “Quân tử ái nhân dĩ đức”, tức là yêu một người thì khiến họ trở thành người tốt, đó mới là chân chính yêu họ, chứ không phải chỉ là ban cho họ tiền bạc.

Một người nếu không làm điều ác, chỉ làm việc thiện, thì đương nhiên sẽ không gặp ác báo, cuộc sống cũng ngày càng an hòa, hạnh phúc. Đó mới là thứ phúc lạc chân chính, lâu dài mà thiên thượng ban cho. Vì vậy, khi thấy người nghèo khổ, không nên chỉ đơn thuần dùng tiền bạc để giúp đỡ, mà quan trọng hơn là giúp họ bồi dưỡng đức hạnh, hiểu rõ đạo lý, thì mới có thể thực sự thay đổi vận mệnh.

Còn nếu cứ cho người nghèo nhiều tiền, mà nếu người ấy không có đức hạnh và phúc báo tương xứng, thì dù có cho họ nhiều đến đâu, họ vẫn có thể gặp tai họa, bệnh tật, thậm chí vướng vào hỏa hoạn, cờ bạc… cuối cùng tiền tài cũng mất đi, bởi họ không có phúc để hưởng.

Tượng Phật, kinh Phật và tăng nhân đều có tác dụng giúp ổn định đạo đức xã hội, giáo hóa con người. Một khi phá hủy những điều ấy, tức là đang phá hoại nền tảng đạo đức, chẳng khác nào làm điều đại ác, vì vậy những hoàng đế diệt Phật về sau phần nhiều đều có kết cục rất bi thảm.

Năm 959, Hậu Chu Thế Tông – Sài Vinh đã phát động một Bắc phạt quy mô lớn. Tháng 3, đại quân xuất phát từ Biện Kinh, tháng 4 tiến quân đến Thương Châu, dọc đường công chiếm thành trì, thế như chẻ tre, chỉ trong vòng 42 ngày đã thu phục được ba châu trong Yên Vân thập lục châu. Sau đó, quân Hậu Chu đóng lại ở Ngõa Kiều Quan, nơi này nằm phía đông Bảo Định, ở phía nam Bắc Kinh hơi chếch về phía tây. Sài Vinh chuẩn bị thừa thắng tiến quân, trực tiếp đánh lấy U Châu.

Trong Ngũ đại sử bổ có ghi chép một câu chuyện. Tuy đây không phải chính sử, nhưng một số ghi chép cũng được Âu Dương Tu trong Tân Ngũ Đại Sử và Tư Mã Quang trong Tư Trị Thông Giám trích dẫn lại.

Chuyện kể rằng, khi Sài Vinh đến Ngõa Kiều Quan, hơn một trăm phụ lão địa phương đã mang rượu và thịt bò đến dâng. Sài Vinh lúc ấy đang có tâm trạng rất tốt, bèn hỏi nơi này gọi là gì. Người dân địa phương đáp: “Từ xưa truyền lại, nơi đây gọi là Bệnh Long Đài”. Sài Vinh nghe xong thì giật mình chấn động, ông không nói một lời, lập tức lên ngựa mà chạy. Đêm hôm đó thì bỗng phát bệnh cấp tính. Sang ngày hôm sau, bệnh tình trở nên nguy kịch, Sài Vinh buộc phải hạ lệnh rút quân về triều, đại nghiệp chỉ còn cách một bước mà cũng đành bỏ dở.

Sài Vinh trở về Biện Kinh không bao lâu thì qua đời. Trong Ngũ đại sử bổ ghi chép rằng: trước khi Sài Vinh lên ngôi hoàng đế, từng mộng thấy một vị thần trao cho ông một chiếc ô lớn màu vàng, cùng một quyển Đạo kinh – tức là kinh điển của Đạo gia. Sau đó, ông quả nhiên đoạt được thiên hạ, đăng cơ xưng đế.

Đến khi ở Ngõa Kiều Quan, lúc thân thể không khỏe, Sài Vinh lại mộng thấy vị thần ấy đến thu lại chiếc ô vàng và quyển Đạo kinh. Khi tỉnh dậy, ông giật mình, sau đó nói với cận thần rằng: “Giấc mộng của ta không lành, chẳng lẽ thiên mệnh sắp rời bỏ ta sao?” Thế rồi lập tức triệu tập quần thần, an bài hậu sự.

Lại nói khi trước, lúc mà dân U Châu nghe tin Sài Vinh sắp kéo quân đến, họ ngầm bàn tán rằng: việc này không đáng lo. U Châu thuộc đất Yên, mà chữ “Yên” đồng âm với “yên hỏa” (tức là khói lửa), còn họ của Chu Thế Tông là “Sài” (tức là củi). Củi mà rơi vào trong khói lửa, tất sẽ bị thiêu thành tro tàn. Điềm báo ấy cực kỳ bất tường, vì vậy Hậu Chu sẽ khó lòng thành công. Và thế cục quả thực đã diễn ra như vậy, Sài Vinh lâm bệnh, buộc phải rút quân về kinh thành.

Sài Vinh qua đời vào tháng 6 năm 959, khi mới 36 tuổi. Người kế vị là con trai 7 tuổi Sài Tông Huấn, sử gọi là Chu Cung Đế. Phù Thái hậu lâm triều nhiếp chính trong cảnh “cô nhi quả mẫu”, lòng người bất ổn.

Tống sử ghi lại rằng, trước khi Sài Vinh qua đời, khi quân đến Ngõa Kiều Quan, ông đã cho kiểm duyệt văn thư và cống phẩm từ bốn phương gửi đến, phát hiện ra một khúc gỗ dài hơn ba thước, trên đó khắc năm chữ: “Điểm kiểm tác thiên tử”.

“Điểm kiểm” là chức quan do Sài Vinh đặt ra, thực chất là thống soái cấm quân. Trong thời Ngũ Đại, cấm quân đã nhiều lần tham gia chính biến, dẫn đến việc hoàng đế bị giết, nên trong lòng Sài Vinh cảm thấy bất an, nghi rằng sắp có điều chẳng lành. Lúc bấy giờ, chức Điểm Kiểm do Trương Vĩnh Đức đảm nhiệm, đây là con rể của Quách Uy, cũng thuộc hàng hoàng thân quốc thích, vì thế Sài Vinh sinh lòng nghi kỵ.

Do đó, Sài Vinh đã bãi chức của Trương Vĩnh Đức, đổi sang bổ nhiệm Triệu Khuông Dận lên làm Kiểm hiệu Thái phó, kiêm chức Điện tiền đô Điểm kiểm.

Cách làm này của Sài Vinh cũng rất đáng suy ngẫm. Nếu ông trực tiếp bãi bỏ chức Điểm kiểm, có lẽ phần nào sẽ hóa giải được lời sấm “Điểm kiểm tác thiên tử”. Nhưng ông chỉ thay người giữ chức mà thôi, chứ không hề xóa bỏ chức vị ấy.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Lưỡng Tống phồn hoa

Gần đây hai chữ “tu luyện” được sử dụng nhiều trong cuộc sống hằng ngày, dường như chỉ trải qua một chút nỗ lực và mài dũa, liền có thể đạt được mục tiêu nào đó trong cuộc sống. Thực ra, hai chữ “tu luyện” này là câu trả lời cho ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>